Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế – xã hội tất yếu trong nền kinh tế thị trường, chịu tác động trực tiếp từ quá trình phát triển công nghiệp và những biến động kinh tế vĩ mô. Khi thất nghiệp gia tăng, người lao động bị mất việc làm, đối mặt với nguy cơ đói nghèo, giảm sút thu nhập, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của lưới an sinh xã hội, chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) tại Việt Nam chính thức được ban hành và đi vào thực tiễn từ ngày 01/10/2009 theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, sau đó tiếp tục được điều chỉnh, hoàn thiện theo quy định của Luật Việc làm năm 2013 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015). Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp giai đoạn 2020 – 2022, chính sách BHTN đã phát huy vai trò bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động vượt qua khó khăn.
Quận Hai Bà Trưng là một trong những quận nội thành trung tâm của thành phố Hà Nội, đi đầu trong việc triển khai tuyên truyền và thực thi chính sách BHTN. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: người lao động mất việc phải đi lại nhiều lần để nộp hồ sơ trực tiếp do cơ quan giải quyết chưa ứng dụng công nghệ thông tin toàn diện trong tiếp nhận và trả kết quả trực tuyến; sự phối hợp giữa cơ quan giải quyết chế độ và cơ quan chi trả tiền trợ cấp chưa thường xuyên; tình trạng nợ đọng BHTN và công tác thu hồi trợ cấp hưởng sai quy định còn gặp nhiều trở ngại. Trước thực trạng đó, đề tài "Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội" được tác giả Nguyễn Phương Linh lựa chọn thực hiện nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách tại địa phương.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2022, đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách BHTN và thực hiện chính sách BHTN.
- Phân tích tình hình thực tế và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2022.
- Đưa ra các quan điểm, nhóm giải pháp và giải pháp cụ thể trước mắt nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách BHTN tại địa bàn nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Địa bàn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế trong giai đoạn 3 năm từ năm 2020 đến năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý
Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các lý thuyết kinh tế học và khoa học chính sách công:
- Lý thuyết về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp: Tác giả trích dẫn quan điểm của Paul Samuelson về hiện tượng người có khả năng lao động bị tách khỏi tư liệu sản xuất và luận điểm của John Maynard Keynes trong tác phẩm "The General Theory of Employment, Interest, and Money" (1936) khẳng định thất nghiệp là trạng thái mất cân bằng tất yếu của hệ thống kinh tế thị trường. Khái niệm BHTN được xác định chuẩn hóa theo khoản 3 Điều 3 Luật Việc làm số 38/2013/QH13: là chế độ bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ học nghề, duy trì việc làm và tìm kiếm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN.
- Lý thuyết về chính sách và thực hiện chính sách công: Dựa trên các giáo trình chuyên ngành "Hoạch định và phân tích chính sách công" và "Hoạch định thực thi chính sách công", khóa luận vận dụng mô hình chu trình thực hiện chính sách gồm 7 bước: (1) Xây dựng kế hoạch triển khai; (2) Phổ biến, tuyên truyền; (3) Phân công, phối hợp thực hiện; (4) Duy trì chính sách; (5) Điều chỉnh chính sách; (6) Giám sát, đôn đốc, kiểm tra; (7) Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Việc làm năm 2013; Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006; Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Nghị định số 61/2020/NĐ-CP; Nghị định số 95/2013/NĐ-CP và Nghị định số 88/2015/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính; Nghị quyết số 116/NQ-CP năm 2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19; Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; cùng các Quyết định số 595/QĐ-BHXH, Quyết định số 166/QĐ-BHXH của BHXH Việt Nam và Điều 214, 216 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và chính sách công:
- Phương pháp khoa học chính sách: Phân tích cấu trúc thể chế, chu trình ban hành và thực thi chính sách BHTN từ cấp trung ương đến cấp quận.
- Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác, xử lý các nguồn dữ liệu văn bản từ sách báo chuyên ngành, tạp chí, kỷ yếu hội thảo, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), Tổng cục Thống kê và BHXH Việt Nam.
- Phương pháp quan sát, thu thập và tổng hợp số liệu thực tế: Trích xuất và tổng hợp dữ liệu báo cáo quản lý, thu chi, giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp và nợ đọng BHTN từ cơ quan BHXH quận Hai Bà Trưng, UBND quận Hai Bà Trưng và Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội trong giai đoạn 2020 – 2022.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu đối với người lao động thụ hưởng chính sách trên địa bàn quận (cụ thể là người lao động tại phường Đồng Tâm) nhằm ghi nhận trải nghiệm thực tế về thủ tục hành chính và quá trình tiếp nhận trợ cấp thất nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản và thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp
Chương 1 tập trung làm sáng tỏ các khái niệm nền tảng về thất nghiệp, người thất nghiệp (người từ đủ 15 tuổi trở lên không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc) và các nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp: suy thoái kinh tế toàn cầu, trình độ tay nghề của người lao động còn hạn chế, sự thiếu kết nối giữa đào tạo với nhu cầu thị trường và tâm lý "nhảy việc" thiếu thực tế của lao động trẻ.
Tác giả phân tích cấu trúc chính sách BHTN tại Việt Nam theo Luật Việc làm năm 2013:
- Đối tượng tham gia bắt buộc: Người lao động có hợp đồng lao động/hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, xác định thời hạn, hoặc hợp đồng theo mùa vụ/công việc nhất định từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
- Mức đóng: Người lao động đóng 1% tiền lương tháng; Người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng BHTN từ ngân sách trung ương.
- Quyền lợi thụ hưởng: Trợ cấp thất nghiệp hàng tháng (bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp, tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở hoặc mức lương tối thiểu vùng); tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; hỗ trợ học nghề (dưới 03 tháng hỗ trợ theo học phí thực tế, trên 03 tháng hỗ trợ theo tháng); hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho doanh nghiệp (1 triệu đồng/người/tháng, tối đa 06 tháng).
Chương 1 cũng chỉ rõ vai trò của BHTN đối với người lao động (bù đắp thu nhập, ổn định tâm lý), đối với người sử dụng lao động (giảm gánh nặng chi phí chi trả trợ cấp mất việc) và đối với nền kinh tế (tạo nguồn vốn đầu tư công, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước). Đồng thời, tác giả xác định 4 nhân tố chi phối quá trình thực hiện chính sách gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật, môi trường kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy chủ thể thực hiện và sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chương 2 trình bày bối cảnh địa bàn nghiên cứu: quận Hai Bà Trưng có diện tích 9,2 km², dân số 303.586 người (năm 2019), tập trung nhiều trường đại học lớn và khu đô thị. Giai đoạn 2020 – 2022, thị trường lao động quận chịu ảnh hưởng lớn từ đại dịch COVID-19:
- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2022 đạt 151,6 nghìn người (riêng quý IV/2022 đạt 152,7 nghìn người).
- Số người có việc làm năm 2022 đạt khoảng 148 nghìn người (quý IV/2022 đạt 149,1 nghìn người).
- Tỷ lệ thất nghiệp năm 2022 là 2,35% (giảm 0,80 điểm phần trăm so với năm 2021; quý IV/2022 là 2,33%).
Bộ máy thực thi chính sách BHTN trên địa bàn quận được phân công cho 2 đơn vị chủ chốt: Cơ quan BHXH quận Hai Bà Trưng (thu, chi, quản lý quỹ, thanh tra chuyên ngành đóng) và Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội - điểm tiếp nhận tại quận Hai Bà Trưng thuộc Sở LĐ-TB&XH (tiếp nhận hồ sơ, tư vấn giới thiệu việc làm, đề xuất quyết định hưởng trợ cấp và hỗ trợ học nghề).
Khóa luận phân tích chu trình 7 bước thực thi chính sách tại quận và tổng hợp kết quả cụ thể qua các bảng số liệu:
Bảng 1: Số đối tượng tham gia, số tiền thu và nợ đọng BHTN tại quận Hai Bà Trưng
| Nội dung |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Số đơn vị tham gia (đơn vị) |
4.023 |
4.678 |
5.399 |
| Số người tham gia BHTN (nghìn người) |
54,4 |
57,7 |
58,5 |
| Tổng số tiền thu BHTN (đồng) |
90.924.780.989 |
89.678.567.569 |
102.679.462.290 |
| Số nợ đọng BHTN (đồng) |
83.922.083.225 |
90.463.930.105 |
84.203.090.481 |
Bảng 2: Tình hình chi trả chế độ BHTN và trợ cấp thất nghiệp
| Nội dung |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Tổng số tiền chi BHTN (đồng) |
32.851.123.371 |
33.046.552.149 |
41.040.981.077 |
| Tổng số chi trợ cấp thất nghiệp (đồng) |
31.293.980.123 |
32.798.703.008 |
40.733.173.719 |
Theo báo cáo của BHXH quận, 99,25% tổng số tiền chi BHTN được dùng để chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, mức hưởng bình quân đạt 3,7 triệu đồng/người/tháng; phần còn lại dành cho hỗ trợ học nghề.
Bảng 3: Số lượng người tiếp nhận và được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp
| Nội dung |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Số người nộp hồ sơ hưởng BHTN (người) |
1.724 |
1.833 |
2.223 |
| Số người có quyết định hưởng TCTN (người) |
1.669 |
1.743 |
2.200 |
Bảng 4: Kết quả tư vấn, giới thiệu việc làm và hỗ trợ học nghề
| Nội dung |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
| Số người được tư vấn, giới thiệu việc làm (người) |
3.041 |
3.784 |
4.731 |
| Số người được hỗ trợ học nghề (người) |
407 |
440 |
488 |
Bên cạnh kết quả đạt được, khóa luận chỉ rõ các hạn chế và nguyên nhân:
- Tổ chức bộ máy: Ngành LĐ-TB&XH không theo hệ thống ngành dọc, tính liên kết giữa Trung tâm Dịch vụ việc làm và BHXH quận chưa chặt chẽ, dữ liệu chưa liên thông dẫn đến việc người lao động phải đi lại nhiều lần; chậm phát hiện các trường hợp vừa đi làm có đóng BHTN vừa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
- Ý thức tuân thủ pháp luật: Doanh nghiệp nợ đọng BHTN ở mức cao (trên 84 tỷ đồng năm 2022); một số doanh nghiệp lách luật bằng cách ký hợp đồng dưới 03 tháng để trốn đóng BHTN; người lao động khai báo không trung thực về tình trạng việc làm.
- Cơ cấu thụ hưởng: Người lao động chủ yếu quan tâm đến nhận trợ cấp tiền mặt (TCTN), tỷ lệ tham gia học nghề còn rất thấp (năm 2022 chỉ có 488 người học nghề so với 2.200 người nhận TCTN).
- Công tác thu hồi: Việc thu hồi số tiền trợ cấp thất nghiệp hưởng sai quy định gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ thu hồi đạt thấp.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp dựa trên chủ trương cải cách chính sách an sinh xã hội tại Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.
Tác giả hệ thống hóa 3 nhóm giải pháp lớn:
- Nhóm giải pháp mở rộng độ bao phủ: Sửa đổi quy định theo hướng bắt buộc tham gia BHTN đối với tất cả người lao động có hợp đồng từ 01 tháng trở lên và bổ sung nhóm người quản lý doanh nghiệp; xây dựng cơ chế đóng linh hoạt căn cứ trên kết dư quỹ BHTN; quy định chế tài xử lý nghiêm các trường hợp trốn đóng, nợ đóng.
- Nhóm giải pháp sửa đổi, bổ sung các chế độ BHTN: Đơn giản hóa thủ tục hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề để duy trì việc làm; quy định việc tiếp nhận tư vấn, giới thiệu việc làm là điều kiện bắt buộc để tiếp tục nhận trợ cấp hàng tháng; mở rộng nội dung hỗ trợ đào tạo kỹ năng mềm/kỹ năng làm việc; bổ sung chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động khi tuyển dụng lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp; thiết lập quỹ dự phòng ứng phó thiên tai, dịch bệnh.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: Nâng cao năng lực bộ máy; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số; liên thông cơ sở dữ liệu quản lý lao động giữa ngành LĐ-TB&XH và ngành BHXH; cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong tiếp nhận và giải quyết chế độ BHTN.
Đồng thời, khóa luận đề xuất 5 giải pháp cụ thể trước mắt:
- Đẩy mạnh tuyên truyền chính sách qua truyền thông đại chúng, hội nghị đối thoại doanh nghiệp và ngày hội việc làm cho sinh viên.
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa Phòng LĐ-TB&XH, BHXH quận và cơ quan Công an/Tòa án nhằm thanh tra, xử lý nghiêm hành vi trốn đóng và trục lợi quỹ.
- Nâng cao tính chủ động của người lao động trong việc tìm hiểu quyền lợi và trách nhiệm pháp lý khi giao kết hợp đồng lao động.
- Nhanh chóng xúc tiến và hoàn thiện mạng lưới các điểm tiếp nhận, giao dịch việc làm trên địa bàn quận.
- Đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Trung tâm Dịch vụ việc làm và đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất hiện đại.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về kết quả thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng trong giai đoạn biến động 2020 – 2022:
- Quy mô tham gia và nguồn thu: Số đơn vị tham gia tăng từ 4.023 đơn vị (2020) lên 5.399 đơn vị (2022); số lao động tham gia đạt 58,5 nghìn người năm 2022 (chiếm 42,3% lực lượng lao động trong độ tuổi); tổng số tiền thu BHTN năm 2022 vượt mốc 102,6 tỷ đồng.
- Thực hiện chi trả: Tổng kinh phí chi trả chế độ BHTN năm 2022 đạt hơn 41 tỷ đồng, trong đó 99,25% là chi trả trợ cấp thất nghiệp cho 2.200 người có quyết định hưởng, với mức chi trả bình quân 3,7 triệu đồng/người/tháng.
- Công tác tư vấn việc làm: Năm 2022 đã thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cho 4.731 lượt người (tăng 25% so với năm 2021) và hỗ trợ học nghề cho 488 người.
Đóng góp của khóa luận được tác giả tự xác định bao gồm:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thất nghiệp, chính sách BHTN và khung quy trình 7 bước thực hiện chính sách công trong lĩnh vực an sinh xã hội.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng độc lập, chi tiết về thực trạng thực hiện BHTN tại địa bàn quận Hai Bà Trưng giai đoạn 2020 – 2022 – một địa bàn nội thành trọng điểm chưa từng có công trình nghiên cứu riêng biệt trước đó; phân tích rõ các nút thắt trong công tác phối hợp giữa cơ quan BHXH và cơ quan LĐ-TB&XH.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gắn liền với Nghị quyết số 28-NQ/TW và yêu cầu chuyển đổi số thực tế tại địa phương, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn quận Hai Bà Trưng và thành phố Hà Nội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian một quận nội thành (Hai Bà Trưng) và mốc thời gian 3 năm (2020 – 2022), vốn chịu ảnh hưởng bất thường của dịch bệnh COVID-19. Mẫu phỏng vấn sâu người lao động còn ở quy mô nhỏ (phỏng vấn định tính đơn lẻ tại phường Đồng Tâm), chưa thực hiện khảo sát định lượng quy mô lớn về mức độ hài lòng của người lao động và doanh nghiệp trên toàn địa bàn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh việc thực hiện chính sách BHTN giữa các quận nội thành và các huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội; nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của việc chuyển đổi số toàn diện và dịch vụ công trực tuyến đối với công tác kiểm soát trục lợi quỹ và giải quyết việc làm sau đại dịch.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành: Chính sách công, Quản lý công, Luật học (Luật Lao động và An sinh xã hội), Kinh tế lao động, Công tác xã hội thuộc các trường đại học và học viện hành chính.
- Người làm nghiên cứu: Cung cấp khung lý thuyết thực thi chính sách 7 bước chuẩn mực và phương pháp thu thập, xử lý số liệu hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội.
- Cán bộ quản lý thực tiễn: Các cán bộ tại cơ quan BHXH cấp quận/huyện, Phòng LĐ-TB&XH, Trung tâm Dịch vụ việc làm có thể tham khảo các phân tích về sự chồng chéo chức năng, vấn đề nợ đọng BHTN và các giải pháp phối hợp liên ngành trong quản lý đối tượng lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ quan nào chịu trách nhiệm thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng?
Việc thực hiện chính sách BHTN tại quận Hai Bà Trưng do 2 cơ quan thuộc 2 ngành khác nhau đảm nhiệm: Cơ quan Bảo hiểm xã hội quận Hai Bà Trưng (phụ trách thu, chi, quản lý quỹ BHTN và thanh tra việc đóng) và Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội chi nhánh quận Hai Bà Trưng thuộc Sở LĐ-TB&XH (phụ trách tư vấn, giới thiệu việc làm, tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề).
2. Tổng số thu và số nợ đọng BHTN tại quận Hai Bà Trưng năm 2022 là bao nhiêu?
Năm 2022, tổng số tiền thu BHTN tại quận Hai Bà Trưng đạt 102.679.462.290 đồng (với 5.399 đơn vị và 58,5 nghìn người tham gia). Tuy nhiên, số nợ đọng BHTN tại quận vẫn ở mức cao, ghi nhận 84.203.090.481 đồng.
3. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bình quân hàng tháng của người lao động tại quận Hai Bà Trưng giai đoạn này là bao nhiêu?
Theo số liệu báo cáo của BHXH quận Hai Bà Trưng được trích dẫn trong khóa luận, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp bình quân của người lao động trên địa bàn quận là 3,7 triệu đồng/người/tháng.
4. Chính sách BHTN đã điều chỉnh mức đóng như thế nào để hỗ trợ doanh nghiệp trong đại dịch COVID-19?
Thực hiện Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ, người sử dụng lao động được giảm mức đóng vào Quỹ BHTN từ 1% quỹ tiền lương tháng xuống 0%. Đến ngày 01/10/2022, khi các hoạt động kinh tế trở lại bình thường, mức đóng BHTN của người sử dụng lao động được hoàn trả về mức 1%.
5. Vì sao công tác quản lý và thu hồi tiền trợ cấp thất nghiệp hưởng sai quy định tại quận còn gặp khó khăn?
Do 2 cơ quan thực hiện chính sách (BHXH quận và Trung tâm Dịch vụ việc làm) chưa liên thông dữ liệu trực tuyến theo thời gian thực; các trung tâm chưa có công cụ kiểm soát chính xác tình trạng việc làm mới của người lao động; việc chuyển quyết định chấm dứt hoặc hủy hưởng trợ cấp từ Trung tâm Dịch vụ việc làm sang cơ quan BHXH thường có độ trễ, dẫn đến tình trạng chi trả trùng hoặc người lao động vừa đi làm vừa nhận trợ cấp rồi trốn tránh hoàn trả.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Linh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp và phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – 2022. Công trình đã làm rõ những thành tựu nổi bật trong công tác phát triển đối tượng, chi trả trợ cấp kịp thời trong đại dịch, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về nợ đọng quỹ và sự thiếu liên thông giữa hai đầu mối thực thi. Dựa trên tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và khả thi cao, tập trung vào mở rộng diện bao phủ, hoàn thiện chế độ hỗ trợ kỹ năng nghề và đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng an sinh xã hội trên địa bàn Thủ đô.