Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách bảo hiểm thất nghiệp Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội Chương 3: Quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. 6 Ch°¢ng 1 MÞT SÞ VÂN ĐÀ LÝ LUÀN C¡ BÀN VÀ THĀC HIÞN CHÍNH SÁCH BÀO HIÂM THÂT NGHIÞP 1. Thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp 1. Thất nghiệp <Thất nghiệp= là vấn đề được nhiều nhà nghiên cău, nhà kinh tế, nhà quản lý á khắp các quốc gia quan tâm và định nghĩa khái niệm dưới nhiều góc độ khác nhau.
Khi đưa ra lý thuyết mới về thất nghiệp, Paul Samuelson – một nhà kinh tế học hiện đại – đã cho rằng đây là hiện tượng ngưßi có khả năng lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất. Và trong nền kinh tế thị trưßng, luôn luôn tồn tại một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phÿ thuộc rất nhiều vào khả năng giải quyết việc làm cāa Chính phā và sự đấu tranh cāa NLĐ đối với ngưßi thuê họ. [17] Bài báo <Thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp= đăng trên báo điện tử Nghiên cău lập pháp cāa Thạc sĩ Lê Thị Hoài Thu - giảng viên Khoa luật trưßng Đại học quốc gia Hà Nội đã trích dẫn quan điểm trong cuốn <Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ= cāa John Maynard Keynes - một nhà kinh tế học nổi tiếng ngưßi Anh như sau: <Vấn đề thất nghiệp không phải là những hiện tượng độc lập cāa đßi sống kinh tế mà là kết quả cāa những tính quy luật nhất định trong việc đạt được cân bằng cāa hệ thống kinh tế.
Theo ông, nạn thất nghiệp sẽ tồn tại dưới dạng <bắt buộc=, là một trạng thái mà trong đó <tổng cung về lao động cāa những NLĐ muốn làm việc thì tại măc tiền lương danh nghĩa đó nếu lớn hơn khối lượng làm việc hiện có=. [12] Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt thông dÿng cāa NXB Dân trí có định nghĩa thất nghiệp là <không có việc làm để sinh sống=. Từ những phân tích trên, có thể hiểu thất nghiệp là: những người trong trong độ tuổi lao động, sẵn sàng lao động nhưng chưa có việc làm hoặc chưa tìm được việc làm. Trong đề tài này, tác giả quy định ngưßi thất nghiệp là những ngưßi từ đā 15 tuổi trá lên mà trong thßi gian tham chiếu có đā các yếu tố sau: hiện tại không có công việc; đang tìm kiếm việc làm; sẵn sàng làm việc.
Số thất nghiệp cũng bao gồm những lao động hiện đang không có công việc và muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm trong thßi gian tham chiếu do: Chắc chắn có việc làm hoặc một hoạt động kinh doanh sẽ bắt đầu sau khoảng thßi gian tham chiếu; Phải nghỉ việc do bị sa thải hoặc ngừng hoạt động (không nhận được tiền lương, tiền công hoặc không chắc chắn về việc quay trá lại công việc ban đầu); Đang trong thßi gian nghỉ phép; Gia đình có việc đột xuất hoặc ốm đau tạm thßi. Tỷ lệ thất nghiệp là thước đo số lượng lao động bị thất nghiệp so với lực lượng lao động. Thất nghiệp bao gồm những đối tượng sau: học sinh/sinh viên/đã nghỉ hưu nhưng đang tìm việc (toàn thßi gian hoặc bán thßi gian) và sẵn sàng làm việc trong thßi gian tham chiếu; làm nội trợ (hoặc làm việc nhà) cho gia đình nhưng đang tìm việc (toàn thßi gian hoặc bán thßi gian) và trong khoảng thßi gian tham chiếu sẵn sàng làm việc. Nguyên nhân của thất nghiệp: Khi đề cập tới vấn đề NLĐ bị mất việc làm, chúng ta thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau như: 8 Thứ nhất, do ảnh hưáng cāa suy thoái toàn cầu.
Sự suy giảm cāa nền kinh tế toàn cầu dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng, gây ra nhiều khó khăn và thách thăc cho nhiều quốc gia. Một số doanh nghiệp đã phải cắt giảm sản xuất, có những doanh nghiệp bị phá sản hoàn toàn, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu do không tiêu thÿ được sản phẩm. Thứ hai, lao động Việt Nam có trình độ tay nghề thấp, chưa đáp ăng yêu cầu mới cāa thực tiễn, thiếu tính chuyên nghiệp. Kỹ năng không đạt yêu cầu và thiếu sự phối hợp giữa hệ thống đào tạo và giáo dÿc, nhu cầu thị trưßng lao động và quan niệm lỗi thßi về vai trò và trách nhiệm giới dẫn đến lực lượng lao động vẫn á măc bán chuyên nghiệp, không ổn định, có nhiều lỗ hổng kiến thăc.
Thứ ba, do thói quen thiếu thực tế cāa một số công nhân trẻ, do không dựa trên năng lực cāa bản thân và nhu cầu xã hội nên nhiều NLĐ <ảo tưáng= về năng lực cāa mình, số khác lại tự ti về bản thân, không đánh giá hết năng lực thực sự cāa họ. Nhiều lao động trẻ <nhảy việc= với hy vọng có thu nhập cao hơn nên dẫn đến tình trạng dễ bị mất việc. Thất nghiệp ngoài việc gây tác động xấu đến tốc độ tăng trưáng kinh tế mà còn ảnh hưáng và là nguyên nhân gây ra nhiều bất cập như: gia tăng tệ nạn xã hội, lạm phát ngày càng cao, khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng,. Đối với Việt Nam - một nước đang phát triển, tỷ lệ thất nghiệp cao khiến cho sản xuất thấp, không tận dÿng được tài nguyên, thu nhập dân cư giảm dẫn đến tổng sản phẩm quốc dân giảm.
Chính vì những điều đó mà Việt Nam luôn đặt ra một thực tế: thất nghiệp luôn là nỗi lo cāa toàn xã hội và quan trọng hơn là nó đã làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng sa sút. Ngoài ra, tình trạng thất nghiệp sẽ làm ảnh hưáng đến tâm lý cāa NLĐ và làm chậm tốc độ tăng trưáng kinh tế. Bảo hiểm thất nghiệp Thất nghiệp không chỉ là mối nguy hiểm tiềm tàng đối với đßi sống cāa NLĐ nói riêng mà còn gây ra những tác động xấu đối với quốc gia và toàn xã hội nói chung. Khắc phÿc và giải quyết tình trạng thất nghiệp luôn là vấn đề 9 được mọi quốc gia đặc biệt quan tâm.
Mỗi quốc gia có những chính sách và giải pháp khác nhau tùy theo tình hình kinh tế, trong đó chính sách BHTN được coi là giải pháp cơ bản nhất để khắc phÿc tình trạng thất nghiệp. Chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dÿng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bù đắp cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa ngưßi thất nghiệp trá lại làm việc nhằm góp phần đảm bảo an toàn đßi sống cāa NLĐ và gia đình họ, đồng thßi góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Theo khoản 3 Điều 3 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 ngày 16/11/2013 cāa Quốc hội thì BHTN được định nghĩa như sau:<BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN= [13]. Như vậy trong nghiên cău này, BHTN được hiểu là một loại BHXH hỗ trợ NLĐ trong trường hợp NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động với đơn vị sử dụng lao động, hoặc NLĐ bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ BHTN.
Chính sách và thực hiện chính sách 1. Chính sách Trong một hệ thống mà nhà nước áp dÿng các công cÿ hành chính để quản lý nền kinh tế - xã hội thì chính sách đó được coi là công cÿ cơ bản định hướng cho các công cÿ khác. Hiện nay, các công cÿ chính sách được áp dÿng rộng rãi trong các mặt khác nhau cāa đßi sống chính trị, kinh tế - xã hội á cả cấp độ vi mô và vĩ mô. Con ngưßi dùng chính sách để bày tỏ ý chí, thái độ, quan điểm và hành động cāa mình nhằm kích thích quá trình hoạt động và điều chỉnh tốc độ hoạt động, phối hợp hoạt động cāa các cấp, các ngành, các địa phương trong xã hội cùng hướng tới mÿc tiêu chung.
10 Nhà kinh tế học Paul Samuelson trong cuốn <Kinh tế học= cāa mình đã cho rằng chính sách còn được coi là sự thỏa hiệp cāa chính phā đối với nền kinh tế ngay cả khi không có ban hành chính sách. Còn cuốn giáo trình <Hoạch định và phân tích chính sách công= có đưa ra khái niệm như sau: <chính sách là những hành động ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định= [8, trg 14]. Vậy, chính sách á đây được hiểu là tập hợp những quyết định mang tính chủ đích, thể hiện quyền lực nhà nước được ban hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, hay thúc đẩy các giá trị ưu tiên. Thực hiện chính sách Chính sách khi đã được ban hành muốn phát huy tác dÿng thì phải được áp dÿng thực hiện trong đßi sống xã hội.
Vì vậy, việc tổ chăc thực hiện chính sách là hết săc cần thiết và đây là yêu cầu khách quan để các công cÿ chính sách vẫn duy trì được sự tồn tại theo yêu cầu quản lý quốc gia, đồng thßi cũng là khâu then chốt để chính sách đạt được những mÿc tiêu đã đề ra. Trong cuốn giáo trình <Hoạch định thực thi chính sách công= đã đưa ra khái niệm về thực thi chính sách công như sau: <Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công= [11, tr. Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định. 11 Thực hiện chính sách bao gồm 7 bước: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; Phổ biến, tuyên truyền chính sách; Phân công, phối hợp thực hiện chính sách; Duy trì chính sách; Điều chỉnh chính sách; Giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách; Đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.
Thāc hißn chính sách bÁo hiÃm thÃt nghißp ã Vißt Nam Chính sách BHTN á Việt Nam được quy định rõ ràng dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật. Cÿ thể nhất, đó là luật chuyên ngành với sự ra đßi cāa Luật việc làm (2013).