Chương 1: Một số van dé lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật vé bảo hiểm that nghiệp Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp vả thực tiễn thực hiện ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm that nghiệp CHUONG 1. MOT SÓ VAN DE LÝ LUẬN VE BAO HIEM THAT NGHIỆP VA PHAP LUAT VE BAO HIEM THAT NGHIEP 1. Một số van đề lý luận về bao hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp That nghiệp la một hiện tượng tất yếu tôn tại trong nên kinh tế thị trường, Tác động lớn dén sự phát triển kinh tê, chính trị va x4 hôi của quóc gia.
Theo Tô chức Lao động Quốc té (ILO) định nghĩa “ Thất nghiệp là hiện tương NLD bị ngừng thu nhập do không co kha năng tin được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và san sàng làm việc ”Ì. Định nghĩa nay dựa trên tiêu chi quan trong lả “ ngừng thu nhập” là NLD trong đô tuôi lao đông, có khả năng lao động nhưng ho không co kha năng tim được việc lam thích hợp trong khi ho van có kha năng lam việc và sẵn sảng làm việc dé tạo ra thu nhập That nghiệp gây ra những hệ quả tiêu cực cho sự phát triển của quốc gia, gây áp lực trong van dé giải quyết việc lam, lam lãng phí nguôn nhân lực. Đôi với NLD khi họ rơi vào tinh trang bi mat việc đồng nghĩa với việc mất đi nguôn thu nhập dẫn đến đời sông khó khăn không có thu nhâp để chỉ trả nhu câu thiết yêu cho ban thân và cho gia đình trong cuộc sóng hàng ngày ti đó, gây ra những tệ nạn xã hội khác. Có thé thay, van dé thất nghiệp là một van dé nan giải cân có những biện pháp va chính sách dé giải quyết tình trang thất nghiệp mdi quốc gia sé đưa ra những biên pháp phủ hợp nhằm trợ giúp kip thời cho người that nghiệp on định cuộc sông của mình vả gia định trong thời gian họ chưa tìm được việc lam va tao cơ hội cho ho hoc nghề, tìm kiếm công việc mới.
Một trong số các biện pháp đó là xây dựng và thực hiện chế độ BHTN ! Điều 20 Công ước số 102 của ILO ngày 28/6/1952 Ví BHTN ra đời từ cuối thé ky 19 và cho đên hiện nay đã có khoảng 70 quốc gia thực hiên chế độ BHTN như nước Anh bắt đầu thực hiện từ năm 1011, Mỹ năm 1035, Pháp năm 1958, Trung Quéc năm 1986?,. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là biện pháp khắc phục hau quả của tinh trang thất nghiệp, giúp NTN tạm thời dam bảo cuộc sống vả tìm kiếm việc lam thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tê tập trung. Quỹ nay được hình thanh do sự đóng góp của NLD và NSDLĐ, có sự hỗ trợ của nha nước, được sử dung dé trợ cap cho NTN, cũng như tiễn hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp NTN có được việc làm mới. Khoản tiên trợ cấp được trích từ quỹ BHTN nhằm dam bao cuộc sống cho trong thời gian mat việc làm được goi là TCTN.
Về mặt ban chất, tiên TCTN được coi là hình thức bù đắp một phân sự mật mát thu nhập do hau quả của tình trạng that nghiệp và giúp NTN học nghề, tìm kiếm việc lam moi} Dưới góc độ pháp lí, BHTN là tông thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp va sử dụng quỹ BHTN, chi trả TCTN để bủ đắp thu nhập cho NLD bị mất việc làm va thực hiện các biên pháp đưa NTN trở lại việc làm. Như vậy, có thể hiểu TCTN la một trong các chế độ của BHTN nhằm hỗ trợ NLD khi bi mat việc làm trên cơ sở dong góp trước đó của NLD vào quỹ BHTN. Bên cạnh đó, BHTN còn thực hiện các biện pháp khác dé hỗ trợ người lao động tìm kiếm các cơ hội việc lam mới đề tiếp tục tham gia vào thị trường lao động* BHTN được hiểu là một chế đô trong hệ thông các chế độ BHXH, có mục đích hỗ tro thu nhập cho NLD bị mắt thu nhập do that nghiệp5 Tuy nhiên, quan điểm của các nước về vị trí BHTN trong hệ thống pháp luật quốc gia là không hoàn toàn giống nhau. Da số các nước cho rằng BHTN là một bộ phân trong hệ 2 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2022 )“ Giáo minh Luật con sink xã hột”, NXB Tư pháp, Bà Nội, t 210.
` Trường Đại học Luật Hà Nội, (2022 )“ Giáo minh Ludt am sinh: xã hột”, NXB Tư pháp , Bà Nội, 210. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội( 2022) ” Giáo trinh Luật an sinh xã hội”, N3BTw pháp, Hà Nội, tr 211. * Công ước so 102 của ILO ngày 29/6/1952 § thông BHXH và được quy định trong luật BHXH của quốc gia như Anh, Mỹ, Thuy Dién,. Một số ít các quốc gia như Ba Lan, Nhật Ban, Han Quốc,.
tại các nước nay quy định BHTN không thuộc hệ thông pháp luật về BHXH ma là một chế định trong hệ thông pháp luật việc làm. Xuat phat từ việc nhân mạnh vai trò chủ động của BHTN trong việc thúc day su chuyển đôi cơ cầu ngành nghệ, giảm that nghiệp, tim và tạo việc làm cho NLD® Để phủ hop với các quy định của ILO, dam bảo tính thông nhất va đông bộ trong hệ thông pháp luật lao đông, ở Việt Nam BHTN được coi là một chê định trong hệ thống pháp luật vê việc lam được quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật việc làm năm 2013 quy định như sau “ Báo hiểm thất nghiệp là chễ đô nhằm bù đắp một phân thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ tro người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đồng vào quỹ bảo hiém that nghiệp ” Từ phân tích trên, ta có thé đưa ra khái niệm về BHTN như sau: BHTN 1a loại hình bảo hiểm bắt buộc nhằm bủ đắp một phân thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, tìm công việc mới trên cơ sở đóng phi BHTN 11. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp Giống với các chế đô BHXH khác là đều bù đắp một phân nao vì lợi ich đối tương được hưởng. Ngoài ra, chế đô BHTN mang những đắc điểm riêng như sau.
BHTN thực hiện vai trò chủ trả TCTN và hỗ trợ giải quyết van đề việc làm cho NLD: BHTN có chức năng hỗ trợ chi trả khó khăn tạm thời cho NLD khi ho bị mật thu nhập ma còn thực hiện các biện pháp khác nhằm đưa NLD trở lại thi trường lao đông bằng các biện pháp hỗ trợ như, học nghệ, tư van, giới thiệu việc lam, đóng góp BHYT cho NLD trong thời gian bi that nghiệp Thứ hai, đối tương áp dụng ché độ BHTN là những người trong đô tuỗi iao động. có sức lao động nhưng bi mất việc làm, tam thời không co tin nhập; đây là “Trường Đại học Luật Hi Nội( 2023), “ Giáo trồnh Luật an sinh xã hội”, Ned Tw pháp, Bà Nội, 212. 9 đặc điểm khác biệt giữa chế độ BHTN với các chế độ BHXH khác như chế độ trợ cấp 6m đau, thai sản la NLD van đang tôn tai quan hé lao đông hoặc đã châm đứt quan hé lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc như ché độ hưu trí, tử tuất. Thì với chế đô BHTN đối tượng áp dung hẹp hơn là NLD trong độ tuôi lao động đã tham gia quan hệ lao động nhưng bi châm dứt quan hệ lao động môt cách không tư nguyên nằm ngoài ý chí chủ quan của họ.
Thứ ba, cơ ché quản I} và tỗ chức thực hiện chế độ BHTN việc thực hiên BHTN phức tap và khó quan ip hơn so với các BHXH Rhác. Bồi, quy mô và tỉ lê thất nghiệp không thể dự đoán chính xác vì còn phụ thuộc vào thị trường lao động qua từng năm, gây khó khăn rat lớn trong việc hạch toán va cân đôi thu — chi của quỹ BHTN. Ngoài ra, hoạt động của BHTN lại có môi quan hệ mật thiết với hệ thông dao tạo nghệ, các trung tâm giới thiệu việc lam vả chương trình quốc gia về việc lam. Chính vi vay, doi hỏi cân có sư phối hợp đông bộ giữa cơ quan quan lý BHTN với các cơ quan chức năng khác trong lĩnh vực lao động việc lam Đây là hai chức năng cơ bản của BHTN khác biệt so với các chế độ BHXH khác? Thứ te việc xác dinh điều kiện được hưởng chế độ BHTN khó khăn hơn so với các ché độ BHXH khác; bời ranh giới dé phân định giữa việc có việc làm va không co việc lam, giữa có thu nhập và không có thu nhập lả không rõ rang gây ra khó khăn cho việc xác định va kiểm tra trên thực tế.
Vi vậy, việc xác định đúng đối tượng đủ điều kiện để chi trả TCTN của cơ quan quản lý chi tra BHTN gặp nhiều khó khăn. Ý ngứa cửa bảo hiểm thất nghiệp BHTN ra đời có ý nghĩa vô cùng quan trọng đóng góp rất lớn vào mục tiêu dam bảo ASXH phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia BHIN góp phần giải quyết tam thời khó Khăn về tài chinh của NIN giúp ho sớm tim được việc lam 2 Trường Đại học Luật Hi Nội 2022), “ Giáo trình Luật an sinh xã hội”, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 214. 10 Đối với bat ky NLD nao họ cũng cân một công việc phù hợp với trình đô cũng như kha năng của ban thân, có một mức lương ôn định dé có thé giúp ho và gia đình duy trì mức sông cơ bản với mức sông chung của toàn xã hôi. Khi NLD không may gặp rủi ro, mat việc NLD sé mat di khoăn thu nhập mat di một khoản thu nhập thường xuyên và ôn định để duy trì cuộc sống của ban thân va gia đình.
Khién cuộc sống vat chất của họ rơi vao tình trạng khó khăn, đời sóng tinh than cũng bị ảnh hưởng, nhất là đôi với NLD là lao động chính trong gia đình Vì vậy, chế đô BHTN đứng ra chi tra trợ cấp that nghiệp thông qua một khoản tiền nhất định. Từ đó, giúp đỡ NLD và gia định ho có thé ôn định cuộc sông, tránh rơi vào tình trạng cùng cực, nghèo khó trước mắt.