Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật học với đề tài "Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện" được thực hiện bởi tác giả Trần Thị Lệ, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí (Hà Nội, năm 2024).

Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra bắt nguồn từ sự vận hành của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là giai đoạn bùng phát của đại dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Dịch bệnh đã làm gián đoạn chuỗi sản xuất, khiến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ, suy thoái hoặc phá sản, buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất và cắt giảm nhân sự hàng loạt. Tình trạng này đẩy người lao động vào khó khăn kép: vừa chịu áp lực tâm lý nặng nề khi mất việc, vừa đối mặt với khủng hoảng tài chính tức thời để duy trì sinh hoạt bản thân và gia đình. Trong bối cảnh phục hồi kinh tế sau đại dịch, thị trường lao động Việt Nam vẫn tiềm ẩn nhiều biến động, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn là bài toán nan giải. Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được nhìn nhận là "phao cứu sinh" quan trọng của chính sách an sinh xã hội, giúp bù đắp một phần thu nhập và hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề để người lao động sớm tái hòa nhập thị trường. Tuy nhiên, sau hơn 10 năm Luật Việc làm năm 2013 đi vào thực tiễn, nhiều quy định pháp lý đã bộc lộ bất cập, đòi hỏi phải được đánh giá toàn diện để sửa đổi, bổ sung.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về BHTN và pháp luật BHTN; đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện tại Việt Nam, từ đó chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách BHTN.

Để hoàn thành mục đích trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về BHTN và pháp luật về BHTN (bao gồm khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung và ý nghĩa).
  2. Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật BHTN Việt Nam hiện hành; đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong quá trình tổ chức thực hiện.
  3. Thứ ba, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật BHTN trong thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh chế định BHTN trong Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành; thực trạng thi hành các quy định BHTN trên thực tế.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các nội dung cốt lõi của pháp luật BHTN gồm: đối tượng tham gia, các chế độ BHTN (trợ cấp thất nghiệp, tư vấn, giới thiệu việc làm, học nghề, hỗ trợ duy trì việc làm), tài chính - quỹ BHTN và xử lý vi phạm pháp luật BHTN.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trên phạm vi toàn quốc (Việt Nam).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập, khảo cứu dữ liệu và thực tiễn pháp lý trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý luận của đề tài được xây dựng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Về phương diện chuẩn mực quốc tế, tác giả viện dẫn và đối chiếu với:

  • Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc (Điều 25 khẳng định quyền được bảo đảm an sinh khi thất nghiệp).
  • Các văn kiện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Công ước số 44 năm 1934 về bảo hiểm thất nghiệp; Công ước số 102 năm 1952 về quy chuẩn tối thiểu an sinh xã hội (Điều 20 định nghĩa về tình trạng thất nghiệp); Công ước số 168 năm 1988 về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp.

Về khung pháp luật quốc gia, đề tài kế thừa và phân tích tiến trình lập pháp qua các thời kỳ:

  • Bộ luật Lao động năm 1994 (Điều 17 quy định về trợ cấp mất việc làm do thay đổi cơ cấu, công nghệ).
  • Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (lần đầu tiên luật hóa chế định BHTN).
  • Luật Việc làm năm 2013 (khoản 4 Điều 3, các Điều 42, 43, 44, 47, 49, 50, 54, 55, 56, 57, 59 quy định chuyên sâu về BHTN).
  • Các văn bản quy định chi tiết thi hành: Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Nghị định số 61/2020/NĐ-CP; Thông tư số 15/2023/TT-BLĐTBXH; Quyết định số 17/2021/QĐ-TTg về mức hỗ trợ học nghề; Nghị quyết số 68/2021/NQ-CP; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với Điều 214 (Tội gian lận bảo hiểm thất nghiệp) và Điều 216 (Tội trốn đóng bảo hiểm).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp linh hoạt, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm sáng tỏ bản chất, nguyên tắc của chế định BHTN.
  • Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu quy định BHTN qua các thời kỳ phát triển của pháp luật Việt Nam, đồng thời so sánh với mô hình của một số quốc gia (Anh, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Đan Mạch...).
  • Phương pháp lịch sử pháp lý để theo dõi tiến trình hình thành chính sách BHTN từ cuối thế kỷ 19 trên thế giới đến nay.
  • Phương pháp thống kê, thu thập số liệu và suy luận logic để phân tích số liệu thực tế về đối tượng tham gia, chi trả chế độ và các hành vi vi phạm.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm số liệu thống kê chính thức từ Tổng cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), các báo cáo sơ kết/tổng kết thi hành pháp luật và hệ thống luận văn, bài báo khoa học chuyên ngành đã công bố.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, khẳng định thất nghiệp là hiện tượng khách quan tất yếu trong nền kinh tế thị trường. Tác giả phân tích khái niệm BHTN dưới ba góc độ: kinh tế - xã hội, pháp lý và theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013. BHTN là loại hình bảo hiểm bắt buộc nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi bị mất việc làm, đồng thời hỗ trợ học nghề, duy trì và tìm kiếm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN.

Văn bản chỉ ra 4 đặc điểm riêng biệt của BHTN so với các chế độ bảo hiểm xã hội khác:

  1. Thực hiện song song hai chức năng: chi trả trợ cấp tài chính tạm thời và áp dụng các biện pháp chủ động để đưa người lao động trở lại thị trường lao động.
  2. Đối tượng áp dụng hẹp hơn: chỉ bao gồm người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đã giao kết quan hệ lao động nhưng bị chấm dứt hợp đồng ngoài ý chí chủ quan.
  3. Cơ chế quản lý và tổ chức phức tạp do quy mô thất nghiệp biến động liên tục theo chu kỳ kinh tế, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan an sinh xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm và hệ thống đào tạo nghề.
  4. Việc xác định điều kiện hưởng gặp nhiều khó khăn do ranh giới giữa việc có việc làm/thu nhập và không có việc làm/thu nhập trong thực tế rất phức tạp.

Về ý nghĩa, BHTN giúp người lao động ổn định đời sống trước mắt; tạo sự hài hòa lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động (giảm gánh nặng chi trả trực tiếp một lần khi chấm dứt hợp đồng); thể hiện vai trò điều tiết an sinh xã hội của Nhà nước, góp phần kiềm chế các tệ nạn xã hội và bảo đảm quyền con người theo chuẩn mực quốc tế.

Chương này xác định 5 nguyên tắc pháp luật cơ bản chi phối chế định BHTN:

  1. Bảo đảm sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN.
  2. Mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của người lao động.
  3. Mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHTN.
  4. Thủ tục thực hiện BHTN phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia.
  5. Quỹ BHTN được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.

Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam

Chương 2 trình bày chi tiết hai mảng nội dung: các quy định pháp luật thực định và số liệu thực tiễn thi hành.

Về hệ thống quy định pháp luật:

  • Đối tượng bắt buộc tham gia: Theo Luật Việc làm 2013 và Nghị định 28/2015/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 61/2020/NĐ-CP), người lao động thuộc diện tham gia gồm người làm việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) hoặc hợp đồng làm việc (HĐLV) không xác định thời hạn, xác định thời hạn, hoặc theo mùa vụ/công việc nhất định từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng. Người sử dụng lao động tham gia không phân biệt quy mô số lượng lao động (đã bãi bỏ ngưỡng tối thiểu từ 10 lao động của Luật BHXH 2006). Ngoại lệ không bắt buộc: người đang hưởng lương hưu, người giúp việc gia đình.
  • Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (TCTN): Đã chấm dứt HĐLĐ/HĐLV hợp pháp (không áp dụng cho trường hợp đơn phương chấm dứt trái luật hoặc hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động); đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng (hoặc trong 36 tháng đối với HĐLĐ mùa vụ); đã nộp hồ sơ tại Trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng; chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ.
  • Mức, thời gian và thời điểm hưởng TCTN: Mức hưởng hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với khu vực nhà nước, hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đối với khu vực doanh nghiệp). Đóng đủ từ 12 đến 36 tháng được hưởng 03 tháng TCTN, sau đó cứ đóng thêm đủ 12 tháng được hưởng thêm 01 tháng (tối đa không quá 12 tháng). Thời điểm hưởng tính từ ngày thứ 16 kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ.
  • Các chế độ hỗ trợ khác: Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; hỗ trợ học nghề cho người đóng từ đủ 09 tháng BHTN trong 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng (mức hỗ trợ theo Quyết định 17/2021/QĐ-TTg tối đa 4,5 triệu đồng/người/khóa đối với khóa đến 03 tháng, tối đa 1,5 triệu đồng/người/tháng đối với khóa trên 03 tháng, thời gian tối đa 06 tháng); hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho doanh nghiệp gặp khó khăn với mức tối đa 01 triệu đồng/người/tháng (thời gian tối đa 06 tháng).
  • Quỹ BHTN và chế tài: Quỹ tài chính hình thành từ đóng góp của người lao động (1%), người sử dụng lao động (1%), ngân sách nhà nước hỗ trợ tối đa 1% và tiền sinh lời từ đầu tư. Chế tài hành chính theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP xử phạt người lao động từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng (kèm biện pháp khắc phục nộp lại tiền trợ cấp), người sử dụng lao động từ 1.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng; chế tài hình sự theo Điều 214 (phạt tiền đến mức quy định hoặc phạt tù đến 05 năm) và Điều 216 Bộ luật Hình sự 2015.

Về thực tiễn thực hiện và số liệu thống kê: Khóa luận tổng hợp quá trình phát triển quy mô đối tượng tham gia qua bảng số liệu:

Năm Số người tham gia (nghìn người) Dân số trong độ tuổi lao động (nghìn người) Tỷ trọng (%)
2010 7.200 40.500 14,69
2019 13.000 54.200 24,57

Số liệu cập nhật cho thấy đến cuối tháng 4/2022, cả nước có hơn 13,64 triệu người tham gia BHTN (đạt 26,07% lực lượng lao động trong độ tuổi). Năm 2023, số người tham gia đạt 14,7 triệu người, chiếm gần 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Về kết quả giải quyết chế độ:

  • Trợ cấp thất nghiệp: Tính đến ngày 30/11/2023, có 1.031.889 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng TCTN (tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2022 là 919.075 người); số người có quyết định hưởng TCTN là 955.058 người (tăng 0,5% so với cùng kỳ năm 2022 là 909.089 người). 100% người hưởng TCTN được cấp thẻ BHYT.
  • Tư vấn, giới thiệu việc làm: Năm 2022 ghi nhận 2,2 triệu lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm (đạt tỷ lệ 226,2% số người nộp hồ sơ hưởng TCTN, tăng 24,4% so với năm 2021 là 1.789.586 lượt người). Trong 03 tháng đầu năm 2023 có hơn 347 nghìn lượt người được tư vấn.
  • Hỗ trợ học nghề: Năm 2022 có gần 21,9 nghìn người được hỗ trợ học nghề (tăng 18,8% so với năm 2021 là hơn 18,3 nghìn người, chiếm 2,2% số người có quyết định hưởng TCTN). Trong 03 tháng đầu năm 2023 có khoảng 4.200 người tham gia (tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2022).
  • Hỗ trợ duy trì việc làm: Sau khi có Nghị quyết 68/2021/NQ-CP mở rộng điều kiện, tính đến hết tháng 9/2022 đã hỗ trợ cho 66 đơn vị sử dụng lao động tổ chức đào tạo, nâng cao tay nghề cho 8.230 người lao động với tổng kinh phí 38,87 tỷ đồng.

Tồn tại và hạn chế được chỉ ra:

  1. Diện bao phủ đối tượng chưa toàn diện: Quy định chưa rõ ràng đối với trường hợp người lao động không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng; nhóm lao động giúp việc gia đình vẫn bị loại trừ khỏi diện bắt buộc tham gia dù đây là nhóm yếu thế, tích lũy tài chính thấp và nguy cơ gián đoạn việc làm cao.
  2. Tình trạng trục lợi quỹ BHTN diễn biến phức tạp: Nhiều người lao động sau khi nộp hồ sơ đã tìm được việc làm mới trong thời hạn 15 ngày nhưng cố tình không khai báo với Trung tâm dịch vụ việc làm để tiếp tục nhận tiền trợ cấp. Việc thu hồi tiền trợ cấp chi sai gặp nhiều trở ngại do người lao động chuyển nơi cư trú hoặc khai báo không trung thực.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gồm ba nội dung chính:

  1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về BHTN: Định hướng sửa đổi phải bám sát chủ trương của Đảng về mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa pháp luật việc làm với Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật Lao động, đáp ứng yêu cầu linh hoạt của thị trường lao động hiện đại.
  2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật:
    • Nghiên cứu cơ chế từng bước mở rộng đối tượng tham gia BHTN bắt buộc đối với nhóm người giúp việc gia đình và các hình thức việc làm linh hoạt; quy định chặt chẽ trường hợp tạm hoãn hợp đồng hoặc nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày trở lên.
    • Sửa đổi quy định về điều kiện, quy trình hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho doanh nghiệp, giảm bớt thủ tục rườm rà nhằm giúp người sử dụng lao động dễ dàng tiếp cận nguồn quỹ BHTN khi xảy ra suy thoái kinh tế.
    • Hoàn thiện chế tài xử lý nghiêm minh các hành vi gian lận, trục lợi quỹ BHTN; bổ sung cơ chế cưỡng chế thu hồi số tiền trợ cấp đã hưởng sai quy định.
  3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Đẩy mạnh hiện đại hóa công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số (tư vấn trực tuyến qua internet, mạng xã hội, cổng thông tin điện tử liên thông).
    • Tăng cường phối hợp chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội, Trung tâm dịch vụ việc làm và cơ quan thuế để kiểm soát chặt chẽ tình trạng quan hệ lao động thực tế của người đề nghị hưởng trợ cấp.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác BHTN và đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người lao động và người sử dụng lao động.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khái quát và hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về pháp luật và thực tiễn thực hiện BHTN tại Việt Nam qua các kết quả cụ thể:

  • Làm sáng tỏ quá trình phát triển của chính sách BHTN từ năm 2010 (7,2 triệu người tham gia, chiếm 14,69% dân số trong độ tuổi lao động) đến năm 2023 (14,7 triệu người tham gia, đạt 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi).
  • Đánh giá cụ thể kết quả vận hành các chế độ BHTN năm 2022 - 2023, bao gồm việc tiếp nhận hơn 1,03 triệu hồ sơ TCTN năm 2023; tư vấn việc làm cho 2,2 triệu lượt người năm 2022; hỗ trợ học nghề cho gần 21,9 nghìn người năm 2022 và giải ngân 38,87 tỷ đồng hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho 8.230 lao động.
  • Chỉ rõ các khoảng trống pháp lý (như loại trừ người giúp việc gia đình, kẽ hở quản lý 15 ngày sau nộp hồ sơ dẫn đến trục lợi) và đề xuất các giải pháp bám sát mục tiêu sửa đổi Luật Việc làm.

So với các công trình nghiên cứu trước đây (phần lớn chỉ tập trung vào phạm vi hẹp tại một địa phương như Hà Nội, Phú Thọ, Sơn La, Lạng Sơn hoặc nghiên cứu so sánh quốc tế đơn lẻ), khóa luận đã cung cấp một góc nhìn tổng thể trên quy mô toàn quốc, cập nhật số liệu mới nhất đến giai đoạn 2022 - 2024 sau tác động của đại dịch Covid-19 và quá trình thi hành Nghị quyết số 68/2021/NQ-CP.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung phân tích khuôn khổ pháp luật thực định Việt Nam (trọng tâm là Luật Việc làm 2013 và các văn bản hướng dẫn) dựa trên dữ liệu thứ cấp được công bố từ Tổng cục Thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cục Việc làm đến đầu năm 2024.

Văn bản gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Đi sâu đánh giá tác động định lượng của các đề xuất sửa đổi Luật Việc làm khi được Quốc hội ban hành và áp dụng vào thực tiễn.
  • Nghiên cứu xây dựng cơ chế BHTN thích ứng cho nhóm lao động phi chính thức, lao động nền tảng công nghệ (kinh tế chia sẻ/gig economy).
  • Hoàn thiện mô hình quản trị và đa dạng hóa danh mục đầu tư an toàn cho Quỹ BHTN trong điều kiện biến động kinh tế vĩ mô.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Luật Kinh tế, cũng như các nhà nghiên cứu chính sách việc làm và an sinh xã hội.

Các nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm:

  • Khung lý luận về 5 nguyên tắc đặc thù của pháp luật BHTN và tiêu chí phân định BHTN với các chế độ BHXH khác.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cập nhật điều chỉnh lĩnh vực BHTN (gồm Luật Việc làm 2013, Nghị định 61/2020/NĐ-CP, Nghị định 12/2022/NĐ-CP, Quyết định 17/2021/QĐ-TTg, Thông tư 15/2023/TT-BLĐTBXH).
  • Bảng số liệu thực chứng và các vụ việc điển hình (case studies) phản ánh thực trạng giải quyết TCTN, hỗ trợ học nghề và các biểu hiện trục lợi quỹ bảo hiểm trên thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Người lao động cần đáp ứng những điều kiện cụ thể nào để được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Luật Việc làm năm 2013?
Người lao động phải đáp ứng đồng thời 4 điều kiện: (1) Đã chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV hợp pháp (không đơn phương chấm dứt trái luật, không thuộc diện hưởng lương hưu/trợ cấp mất sức lao động hàng tháng); (2) Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi nghỉ việc (hoặc trong 36 tháng đối với HĐLĐ mùa vụ từ 3 đến dưới 36 tháng); (3) Đã nộp hồ sơ hưởng TCTN tại Trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng; (4) Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ (trừ các trường hợp luật định).

2. Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng được tính toán như thế nào?
Mức hưởng hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp (tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với khu vực nhà nước hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đối với khu vực doanh nghiệp). Về thời gian: Đóng đủ từ 12 tháng đến đủ 36 tháng được hưởng 03 tháng TCTN; sau đó cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng TCTN, nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Chính sách hỗ trợ học nghề cho người tham gia bảo hiểm thất nghiệp quy định mức hỗ trợ và thời gian hỗ trợ tối đa là bao nhiêu?
Theo Điều 56 Luật Việc làm 2013 và Quyết định 17/2021/QĐ-TTg, thời gian hỗ trợ học nghề tối đa là 06 tháng. Mức hỗ trợ đối với người tham gia khóa đào tạo nghề đến 03 tháng tối đa không quá 4,5 triệu đồng/người/khóa; đối với khóa đào tạo nghề trên 03 tháng, mức hỗ trợ tối đa không quá 1,5 triệu đồng/người/tháng.

4. Pháp luật hiện hành quy định chế tài xử lý như thế nào đối với các hành vi vi phạm và trục lợi bảo hiểm thất nghiệp?
Về hành chính, theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người lao động có hành vi vi phạm bị phạt từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng và buộc nộp lại toàn bộ số tiền trợ cấp đã chiếm đoạt; người sử dụng lao động vi phạm bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng. Về hình sự, Bộ luật Hình sự 2015 quy định xử lý Tội gian lận BHTN (Điều 214) với mức phạt tiền hoặc phạt tù đến 05 năm, và Tội trốn đóng BHTN (Điều 216) với mức phạt tiền từ 50 triệu đồng trở lên cùng các khung hình phạt bổ sung.

5. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp so với lực lượng lao động tại Việt Nam đã có sự thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2010 - 2023?
Năm 2010, số người tham gia là 7,2 triệu người, chiếm 14,69% dân số trong độ tuổi lao động. Đến năm 2019, quy mô tăng lên 13 triệu người (chiếm 24,57%). Đến cuối tháng 4/2022, số người tham gia đạt hơn 13,64 triệu người (chiếm 26,07% lực lượng lao động trong độ tuổi) và đạt 14,7 triệu người vào năm 2023 (chiếm gần 31,6% lực lượng lao động trong độ tuổi).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Lệ đã luận giải sâu sắc các vấn đề lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2024. Công trình làm nổi bật vai trò then chốt của BHTN trong việc ổn định đời sống người lao động và tái thiết thị trường lao động sau biến động kinh tế, đồng thời thẳng thắn chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý về đối tượng bao phủ và tình trạng trục lợi quỹ. Hệ thống giải pháp hoàn thiện được đề xuất mang tính hệ thống, góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Việc làm trong giai đoạn hiện nay.