Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" được nghiên cứu và bảo vệ bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Hoài Thu tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2005, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Nguyễn Hữu Viện và PGS.TS. Phạm Công Trứ. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số chuyên ngành 5.15.

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích rằng trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp mang tính tất yếu khách quan và là đặc trưng vốn có mà các quốc gia chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại bỏ hoàn toàn. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp với tốc độ gia tăng dân số (khoảng 1,4%/năm, dự báo đến năm 2010 dân số đạt khoảng 85 triệu người với 56 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 65%) và việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ đã làm gia tăng áp lực việc làm. Thất nghiệp gây ra các chi phí kinh tế (gánh nặng ngân sách, quỹ xã hội, lãng phí tiềm năng sản xuất) và các hệ lụy xã hội (suy giảm thể lực, tinh thần, mâu thuẫn gia đình, gia tăng tệ nạn và tội phạm).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ rõ: trước thời điểm nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ người mất việc làm tại Việt Nam chủ yếu mang tính tình thế, phân tán thông qua các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm hoặc hỗ trợ lao động dôi dư trong sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Các văn bản pháp luật điều chỉnh còn mang dấu ấn của cơ chế bao cấp, chưa tiếp cận thất nghiệp như một chế định bảo hiểm xã hội độc lập. Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ chính sách kinh tế – xã hội hoặc kinh tế lao động; các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý về chế độ bảo hiểm thất nghiệp còn thiếu vắng.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu mối quan hệ giữa thị trường sức lao động với thất nghiệp, tính tất yếu khách quan của thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường; làm rõ các khái niệm về thất nghiệp, người thất nghiệp và tác động kinh tế – xã hội.
  2. Nghiên cứu nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm thất nghiệp, mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp với bảo hiểm xã hội và ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với bảo hiểm thất nghiệp.
  3. Nghiên cứu thực trạng thất nghiệp và các chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ phát triển kinh tế; luận giải sự cần thiết khách quan của việc thiết lập chế độ bảo hiểm thất nghiệp.
  4. Đề xuất và luận giải phương hướng xây dựng, thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam (nguyên tắc, đối tượng, điều kiện, thời gian, mức hưởng, nguồn hình thành và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp, các biện pháp hỗ trợ người thất nghiệp tái hòa nhập thị trường lao động).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng tình hình thất nghiệp và hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn đối với nhóm người lao động làm công ăn lương, tham gia quan hệ lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Đồng thời, luận án khảo cứu các chuẩn mực pháp lý quốc tế và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu, bài viết và đề tài khoa học đã công bố liên quan đến vấn đề thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm:

  • Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và ngành:

    • Đề tài "Dự án mô hình chính sách để thực hiện bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (thực hiện tháng 10/1997): Khái quát thực trạng thất nghiệp và chính sách hỗ trợ người lao động mất việc qua các thời kỳ, phác họa một số nội dung của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
    • Đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn để xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (thực hiện tháng 4/1999): Xác lập cơ sở lý luận, đề xuất nguyên tắc và giải pháp xây dựng bảo hiểm thất nghiệp.
    • Đề tài "Nghiên cứu xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi, bổ sung" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (thực hiện tháng 5/2002): Đưa ra cơ sở khoa học và thực tiễn, xác định nội dung chủ yếu và giải pháp thực hiện bảo hiểm thất nghiệp.
    • Đề tài "Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp" của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (thực hiện tháng 12/2003): Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về tạo nguồn quỹ và mô hình tổ chức.
    • Đề tài "Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại, vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam" của Bảo hiểm xã hội Việt Nam (thực hiện tháng 3/2004): Nghiên cứu lịch sử, nội dung bảo hiểm thất nghiệp hiện đại và đề xuất mô hình áp dụng.
  • Các bài viết trên tạp chí chuyên ngành:

    • Bài viết về thực trạng và xây dựng chế độ: Thái Đông Hải (Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 3/2004); Nguyễn Xuân Nga (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 295/2003); Mạc Tiến Anh (Tạp chí Lao động và Xã hội, số 2/2002).
    • Bài viết về sự cần thiết lập pháp: Đỗ Năng Khánh (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 9/2001); Hoàng Hà (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 5/2001).
    • Bài viết về nội dung và mô hình: Nguyễn Bá Ngọc (Tạp chí Lao động và Xã hội, số 4, 5/1998); Nguyễn Trọng Thản (Tạp chí Bảo hiểm xã hội, số 6/2002).
  • Luận văn học thuật chuyên ngành luật:

    • Luận văn thạc sĩ luật học "Thất nghiệp và việc xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam" của tác giả Đỗ Năng Khánh (năm 2000): Làm rõ các vấn đề lý luận về kinh tế thị trường, thị trường lao động, kinh nghiệm nước ngoài và nhận xét về chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó nhưng tập trung giải quyết khoảng trống học thuật về mặt khoa học pháp lý. Tác giả xây dựng một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ khái niệm pháp lý, cấu trúc quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp, đánh giá thực trạng các văn bản pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp lập pháp cụ thể nhằm thể chế hóa quy định tại Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế và pháp lý nền tảng:

  • Lý luận Mác - Lênin về hàng hóa sức lao động: Sử dụng các luận điểm của C. Mác trong bộ Tư bản về hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa (người lao động tự do về thân thể và người lao động bị tước đoạt tư liệu sản xuất), tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động (gắn liền với cơ thể sống của con người, tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân), cấu thành giá trị sức lao động (tư liệu sinh hoạt duy trì người lao động và gia đình, chi phí đào tạo).
  • Lý thuyết việc làm của John Maynard Keynes: Phân tích quan điểm trong Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, thừa nhận tính khách quan của thất nghiệp bắt buộc do tổng cung lao động vượt quá tổng cầu ở mức tiền lương danh nghĩa nhất định.
  • Lý thuyết kinh tế học hiện đại: Vận dụng quan điểm của Paul Samuelson về thất nghiệp là vấn đề trung tâm của xã hội hiện đại, gây tổn thất tài nguyên và suy giảm phúc lợi.
  • Chuẩn mực pháp lý quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Khảo cứu Công ước số 102 (1952) về Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội, Công ước số 168 (1988) về Nâng cao việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp, Nghị quyết Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ 13 (Geneva, 1983) và Khuyến nghị năm 1975 về thống kê lao động.
  • Khung pháp luật so sánh: Tham khảo quy định pháp luật về việc làm và bảo hiểm thất nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 101 Luật Bảo hiểm thất nghiệp), Ba Lan (Điều 2 Luật về Việc làm và Thất nghiệp), Pháp, Nhật Bản, Thái Lan (Điều 5 Luật Bảo hiểm xã hội), Trung Quốc và Văn phòng Lao động Quốc tế (BIT).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Phép biện chứng duy vật của triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích lịch sử pháp lý, phương pháp thống kê xã hội học, phương pháp diễn dịch và quy nạp.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Số liệu điều tra lao động – việc làm hàng năm của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, số liệu Tổng điều tra mức sống dân cư và Niên giám thống kê của Tổng cục Thống kê, các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (VI, VII, VIII, IX), các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2005.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Chương 1 thiết lập các khái niệm khoa học và cơ sở lý luận về thị trường lao động, thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp:

  1. Thị trường sức lao động và đặc điểm tại Việt Nam: Tác giả khẳng định thị trường sức lao động là bộ phận cấu thành của kinh tế thị trường, nơi diễn ra quan hệ trao đổi giữa người bán (người lao động) và người mua (người sử dụng lao động). Luận án chỉ ra ba đặc điểm chính của thị trường sức lao động Việt Nam:
    • Mất cân đối cung cầu: Cung vượt cầu cả về quy mô và cơ cấu. Năm 2004, lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên là 43.255,3 nghìn người (thành thị chiếm 24,4%, nông thôn chiếm 75,6%). Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ đạt 22,5% (đào tạo nghề 13,3%, trung học chuyên nghiệp 4,4%, cao đẳng và đại học trở lên 4,8%). Tỷ lệ sinh viên công lập năm 1999 phân bổ bất hợp lý: khối sư phạm chiếm 39,24%, kỹ thuật 17,36%, kinh tế 13,07%, trong khi nông nghiệp chỉ chiếm 5,05%.
    • Tính tự phát, phân tán, chia cắt: Dòng di cư tự do nông thôn – đô thị thời kỳ 1990–1997 đạt 1,2–1,5 triệu người. Thị trường bị phân mảng sâu sắc giữa khu vực thành thị và nông thôn, khu vực chính thức và phi chính thức.
    • Thị trường đang hình thành và chuyển đổi mạnh: Tỷ lệ lao động làm công ăn lương tăng từ 17,9% (1992–1993) lên 19,48% (1997–1998). Cơ cấu lao động dịch chuyển chậm, lao động nông nghiệp vẫn chiếm khoảng 60% tổng lao động xã hội.
Chỉ tiêu thống kê thị trường lao động Dữ liệu ghi nhận trong luận án
Tỷ lệ thất nghiệp thành thị năm 2004 5,6%
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động nông thôn năm 2004 79,34%
Tổng lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên (2004) 43.255,3 nghìn người
Lực lượng lao động khu vực nông thôn (2004) 32.706,0 nghìn người (75,6%)
Lực lượng lao động khu vực thành thị (2004) 10.549,3 nghìn người (24,4%)
Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (2004) 22,5%
  1. Lý luận về thất nghiệp và người thất nghiệp:

    • Luận án đối chiếu định nghĩa của ILO (Geneva 1983: không có việc làm, có khả năng làm việc, đang tìm việc làm) với các quan điểm trong nước (Nguyễn Lê Minh, Phạm Quý Thọ, Tổng cục Thống kê). Dưới góc độ pháp lý, tác giả định nghĩa: "Thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng lao động, ở độ tuổi do pháp luật qui định mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ". Người thất nghiệp được định nghĩa là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm.
    • Phân loại thất nghiệp: Luận án phân loại theo ý chí (tự nguyện, không tự nguyện), theo thời gian (tạm thời, tiềm tàng, dai dẳng), theo nguyên nhân (cơ cấu, chu kỳ), và xác định các dạng đặc thù tại Việt Nam (hữu hình tích cực, hữu hình thụ động, trá hình/vô hình, toàn phần, từng phần, thời vụ).
  2. Bản chất và nội dung chế độ bảo hiểm thất nghiệp: Bảo hiểm thất nghiệp là một chế định pháp lý thuộc hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm khi họ có đủ điều kiện luật định. Nội dung chế độ gồm 4 yếu tố: đối tượng tham gia/hưởng, chế độ trợ cấp, quỹ bảo hiểm thất nghiệp và các biện pháp hỗ trợ giải quyết việc làm (tư vấn, học nghề, giới thiệu việc làm). Luận án phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa bảo hiểm thất nghiệp với bảo hiểm xã hội và khẳng định bảo hiểm thất nghiệp là công cụ phân phối lại thu nhập và điều tiết thị trường lao động.

Chương 2: Chế độ hỗ trợ người lao động mất việc làm và sự cần thiết khách quan của chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích tiến trình lịch sử và thực trạng thực hiện các chính sách hỗ trợ người mất việc làm tại Việt Nam qua hai giai đoạn:

  1. Thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Quan hệ lao động mang tính hành chính – mệnh lệnh, biên chế nhà nước cứng nhắc. Hiện tượng thừa lao động không được gọi là thất nghiệp mà dùng các thuật ngữ như "chờ việc", "việc ít", "dư thừa lao động". Nhà nước phân phối việc làm và bao cấp đời sống, không có thị trường lao động và chế định bảo hiểm thất nghiệp.

  2. Thời kỳ kinh tế thị trường: Khi chuyển đổi cơ chế, Nhà nước ban hành các văn bản điều chỉnh tình trạng dôi dư lao động và chấm dứt hợp đồng lao động:

    • Giai đoạn đầu đổi mới: Quyết định số 176/HĐBT (09/10/1989) về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh; Quyết định số 111/HĐBT (12/04/1991); Pháp lệnh Hợp đồng lao động (30/08/1990); Nghị định số 165/HĐBT (12/05/1992).
    • Giai đoạn từ khi có Bộ luật Lao động 1994: Áp dụng chế độ trợ cấp thôi việc (Điều 42), chế độ trợ cấp mất việc làm (Điều 17) và các chính sách hỗ trợ lao động dôi dư khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước.
  3. Đánh giá thực tiễn và sự cần thiết khách quan:

    • Kết quả đạt được: Các chính sách trợ cấp thôi việc và mất việc làm đã góp phần hỗ trợ tài chính ban đầu cho hàng vạn lao động khi rời khỏi doanh nghiệp, giảm bớt căng thẳng xã hội trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
    • Hạn chế: Toàn bộ gánh nặng chi trả trợ cấp thôi việc và mất việc làm đặt trực tiếp lên vai doanh nghiệp/người sử dụng lao động tại thời điểm họ gặp khó khăn về sản xuất - kinh doanh, dẫn đến nguy cơ né tránh trách nhiệm, nợ đọng hoặc phá sản. Nguồn lực ngân sách hỗ trợ cho vay giải quyết việc làm chỉ giải quyết được phần ngọn mang tính tạm thời.
    • Sự cần thiết khách quan: Xuất phát từ chủ trương của Đảng (Nghị quyết Trung ương 7 khóa VII, Nghị quyết Đại hội VIII, Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX) và quy định khung tại Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002, việc thiết lập chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động là tất yếu khách quan nhằm ổn định kinh tế – xã hội.

Chương 3: Phương hướng xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam

Chương 3 trình bày hệ thống quan điểm, nguyên tắc và giải pháp lập pháp nhằm xây dựng hoàn chỉnh chế độ bảo hiểm thất nghiệp:

  1. Cơ sở xây dựng:

    • Cơ sở kinh tế – xã hội: Sự phát triển của các thành phần kinh tế, sự gia tăng số lượng lao động làm công ăn lương và yêu cầu bảo đảm lưới an sinh xã hội cho người lao động trước các cú sốc thị trường.
    • Cơ sở chính trị – pháp lý: Các nghị quyết chỉ đạo của Đảng về an sinh xã hội và căn cứ pháp lý tại Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002.
  2. Nguyên tắc cơ bản xây dựng chế độ:

    • Kết hợp hài hòa giữa quyền lợi và nghĩa vụ (người lao động có đóng góp mới được hưởng trợ cấp).
    • Thực hiện nguyên tắc chia sẻ rủi ro trong cộng đồng lao động và người sử dụng lao động.
    • Mức hưởng gắn liền với mức đóng góp và thời gian đóng bảo hiểm trước khi mất việc làm.
    • Gắn kết chặt chẽ giữa chi trả trợ cấp tiền mặt với các biện pháp chủ động: tư vấn, dạy nghề và giới thiệu việc làm mới.
  3. Dự kiến nội dung chế định bảo hiểm thất nghiệp:

    • Phạm vi và đối tượng áp dụng: Bước đầu áp dụng bắt buộc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.
    • Điều kiện hưởng: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian tối thiểu luật định (dự kiến từ đủ 12 tháng trở lên trong vòng 24 tháng trước khi mất việc); bị mất việc làm không do lỗi kỷ luật sa thải; đã đăng ký thất nghiệp tại cơ quan lao động và tích cực tìm kiếm việc làm nhưng chưa tìm được việc sau một khoảng thời gian nhất định (khoảng 15 ngày kể từ ngày đăng ký).
    • Mức hưởng và thời gian hưởng: Mức trợ cấp hàng tháng được tính bằng tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức tiền lương/tiền công bình quân đóng bảo hiểm của những tháng liền kề trước khi thất nghiệp (đề xuất khoảng 50% - 60%); thời gian hưởng tương ứng với thời gian tham gia đóng quỹ, có quy định mức trần thời gian hưởng tối đa.
    • Cơ chế hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp: Quỹ hoạt động theo nguyên tắc độc lập, hạch toán tập trung, nguồn thu được hình thành từ đóng góp của ba bên: người lao động đóng 1% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng 1% tổng quỹ lương, Nhà nước hỗ trợ 1% từ ngân sách (mô hình 1% + 1% + 1%).
  4. Tổ chức thực hiện và giải pháp hỗ trợ tái hòa nhập:

    • Mô hình tổ chức quản lý: Thống nhất giao cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện thu chi, quản lý quỹ; ngành Lao động – Thương binh và Xã hội (thông qua hệ thống các Trung tâm Dịch vụ việc làm) thực hiện tiếp nhận đăng ký, thẩm định điều kiện hưởng, tư vấn, dạy nghề và giới thiệu việc làm.
    • Các biện pháp thúc đẩy trở lại thị trường lao động: Hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn, trợ cấp tìm việc làm, miễn phí dịch vụ môi giới việc làm và khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng lao động thất nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:

    • Là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên tại Việt Nam về thất nghiệp và chế độ bảo hiểm thất nghiệp dưới góc độ Luật Kinh tế và Luật Lao động.
    • Làm rõ sự khác biệt bản chất giữa hiện tượng xã hội "thất nghiệp", đối tượng quản lý "người thất nghiệp" và chủ thể pháp lý "người được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp".
    • Xác lập cơ sở lý luận về tính chất đặc thù của thị trường sức lao động Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi, luận giải tính quy luật của thất nghiệp trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
    • Xây dựng hệ thống khái niệm, nguyên tắc và cấu trúc pháp lý của chế định bảo hiểm thất nghiệp trong mối tương quan với các chế định bảo hiểm xã hội khác.
  • Về mặt thực tiễn:

    • Khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm và chế độ đối với lao động dôi dư ở Việt Nam từ thời kỳ bao cấp đến năm 2005, chỉ rõ những bất cập về tài chính và pháp lý đè nặng lên doanh nghiệp.
    • Đề xuất mô hình lập pháp chi tiết cho chính sách bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam: xác định rõ tỷ lệ đóng góp quỹ (người lao động 1%, người sử dụng lao động 1%, Nhà nước hỗ trợ 1%), điều kiện hưởng, thời gian hưởng, cơ chế chi trả gắn liền với đào tạo nghề và giới thiệu việc làm.
    • Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ cho việc xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động của các cơ quan có thẩm quyền.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2005), chế độ bảo hiểm thất nghiệp chưa được ban hành và thực thi trên thực tế tại Việt Nam (mới dừng lại ở quy định mang tính định hướng tại Điều 140 Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002). Do đó, các phân tích về vận hành quỹ, quản lý chi trả và xử lý tranh chấp bảo hiểm thất nghiệp chủ yếu dựa trên mô hình giả định và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, chưa có số liệu thực chứng từ thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khu vực lao động làm công ăn lương có hợp đồng lao động, chưa bao quát được toàn diện khu vực lao động phi chính thức và lao động tự do tại nông thôn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Theo dõi, tổng kết thực tiễn áp dụng các quy định về bảo hiểm thất nghiệp sau khi các văn bản quy phạm pháp luật chính thức được ban hành và có hiệu lực thi hành.
    • Nghiên cứu cơ chế mở rộng diện bao phủ bảo hiểm thất nghiệp đối với các nhóm lao động đặc thù và lao động khu vực phi chính thức trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và căn cứ thực tiễn cho Ban soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội (được Quốc hội thông qua năm 2006), Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong việc thiết kế chính sách, xây dựng các văn bản dưới luật về quy trình thu nộp quỹ, thủ tục giải quyết hưởng trợ cấp và tổ chức hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm.
  • Cán bộ nghiên cứu và giảng viên: Phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy các học phần Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Luật Kinh tế và Kinh tế lao động tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật và khoa học xã hội.
  • Học viên cao học và sinh viên luật: Là tài liệu tham khảo để tìm hiểu về phương pháp luận nghiên cứu pháp luật an sinh xã hội, cách thức tiếp cận so sánh luật học và xử lý số liệu thị trường lao động trong nghiên cứu luật học ứng dụng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "thất nghiệp" và "người thất nghiệp" dưới góc độ pháp lý được luận án xác định như thế nào? Luận án xác định thất nghiệp là hiện tượng xã hội phản ánh tình trạng toàn bộ số người có khả năng lao động, ở độ tuổi do pháp luật quy định mà không có việc làm hoặc đang tìm việc làm mà không có thu nhập nên Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ. Người thất nghiệp là cá nhân trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm. Luận án nhấn mạnh cần phân biệt "người thất nghiệp" với "người được hưởng bảo hiểm thất nghiệp" vì người được hưởng bảo hiểm phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định về thời gian đóng quỹ và lý do mất việc.

2. Thị trường sức lao động Việt Nam có những đặc điểm cơ bản nào theo phân tích của tác giả? Luận án chỉ ra ba đặc điểm chính: (1) Đang ở trong giai đoạn mất cân đối cung cầu sâu sắc, cung lớn hơn cầu cả về quy mô lẫn cơ cấu, thiếu lao động kỹ thuật cao; (2) Mang tính tự phát cao, phân tán, chia cắt giữa thành thị và nông thôn, mối quan hệ cung - cầu còn lỏng lẻo; (3) Là thị trường đang hình thành và chuyển đổi mạnh từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, chịu sức ép gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

3. Tại sao các chế độ trợ cấp thôi việc và mất việc làm trước năm 2005 không thể thay thế chế độ bảo hiểm thất nghiệp? Theo luận án, các chế độ trợ cấp thôi việc (Điều 42 Bộ luật Lao động) và mất việc làm (Điều 17 Bộ luật Lao động) buộc người sử dụng lao động phải tự chi trả trực tiếp cho người lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng. Khi doanh nghiệp gặp khủng hoảng, thu hẹp sản xuất hoặc phá sản, họ không có khả năng tài chính để chi trả, dẫn đến việc người lao động bị thiệt thòi. Ngược lại, bảo hiểm thất nghiệp vận hành theo cơ chế quỹ tài chính độc lập dựa trên sự đóng góp trước đó của các bên và chia sẻ rủi ro xã hội, bảo đảm nguồn chi trả an toàn và kết hợp dạy nghề, giới thiệu việc làm mới.

4. Luận án đề xuất mô hình đóng góp hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam như thế nào? Tác giả đề xuất xây dựng quỹ bảo hiểm thất nghiệp tập trung theo cơ chế ba bên cùng đóng góp: Người lao động đóng 1% tiền lương tháng; Người sử dụng lao động đóng 1% trên tổng quỹ tiền lương của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; Nhà nước hỗ trợ 1% từ ngân sách nhà nước. Quỹ được quản lý tập trung, độc lập trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Hoài Thu là công trình khoa học chuyên sâu đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu toàn diện về chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Tác giả đã luận giải vững chắc tính tất yếu khách quan của hiện tượng thất nghiệp, chỉ rõ những hạn chế mang tính lịch sử của các chế độ trợ cấp mất việc làm và thôi việc trước đây. Trên cơ sở đó, luận án xây dựng hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, từ nguyên tắc, điều kiện, mức hưởng đến cơ chế tài chính ba bên đóng góp và mô hình tổ chức thực hiện, đóng góp thiết thực cho quá trình xây dựng chính sách an sinh xã hội và hoàn thiện pháp luật lao động tại Việt Nam.