Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội, đóng vai trò bù đắp thu nhập, hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người lao động khi bị mất việc, đồng thời góp phần giảm thiểu các tác động tiêu cực đến trật tự kinh tế - xã hội. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê được trích dẫn trong công trình, năm 2023 cả nước có gần 1,07 triệu người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp (tỷ lệ thất nghiệp 2,28%, giảm 0,06% so với năm 2022). Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021–2030) đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia BHTN. Luật Việc làm số 38/2013/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) đã xác lập khung pháp lý toàn diện cho lĩnh vực này, song quá trình thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.
Đề tài khóa luận được xác định với các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Ninh Thuận; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật BHTN tại địa phương.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về BHTN (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên tắc).
- Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN theo Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản quy định chi tiết.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật BHTN tại tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2020–2023, chỉ rõ kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân.
- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi tại tỉnh Ninh Thuận.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật hiện hành về BHTN (trọng tâm là Luật Việc làm năm 2013, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành) và thực tiễn triển khai chính sách BHTN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế, tập trung vào 4 nhóm quan hệ: đối tượng tham gia, chế độ hưởng BHTN, thủ tục hưởng BHTN và xử lý vi phạm pháp luật về BHTN.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn 2020–2023.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật tại địa phương. Cơ sở lý luận và nền tảng chuẩn mực pháp lý được tác giả sử dụng bao gồm:
- Chuẩn mực quốc tế: Công ước số 102 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các quy chuẩn tối thiểu về an sinh xã hội; Tuyên bố năm 1998 của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc; các cam kết lao động trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
- Văn bản pháp luật quốc gia: Luật Việc làm năm 2013; Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị định số 28/2015/NĐ-CP; Nghị định số 61/2020/NĐ-CP; Nghị định số 12/2022/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội); Nghị quyết số 116/NQ-CP năm 2021 về chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động từ Quỹ BHTN; Nghị định số 30/2016/NĐ-CP về hoạt động đầu tư từ quỹ; Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 15/2023/TT-BLĐTBXH.
- Chủ trương, chính sách: Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII và Kế hoạch số 115-KH/TU ngày 07/8/2018 của Tỉnh ủy Ninh Thuận về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện:
- Phương pháp luận chung: Vận dụng phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh để nhìn nhận các quan hệ xã hội về BHTN trong sự vận động kinh tế.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích quy phạm pháp luật và tổng hợp tài liệu học thuật.
- Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực của ILO).
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu thực tế từ các báo cáo định kỳ.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Thuận, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Ninh Thuận và Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2020–2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp
Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng và phân tích cấu trúc quy phạm pháp luật về BHTN tại Việt Nam:
- Vấn đề lý luận: Định nghĩa BHTN theo góc độ kinh tế - xã hội và pháp lý (khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013). Phân tích 5 đặc điểm cơ bản (chủ thể tham gia, tính phức tạp trong việc xác định điều kiện hưởng, trách nhiệm quản lý của Nhà nước, mục tiêu trọng tâm giúp người lao động tái hòa nhập thị trường lao động, tính đa ngành trong vận hành quỹ) và 5 nguyên tắc quy định tại Điều 41 Luật Việc làm 2013 (chia sẻ rủi ro; mức đóng tính theo lương; mức hưởng tính theo mức và thời gian đóng; đơn giản, thuận tiện, kịp thời; quản lý tập trung, minh bạch, an toàn).
- Phân tích quy định hiện hành:
- Đối tượng tham gia: Khoản 1, khoản 2 Điều 43 Luật Việc làm 2013 quy định người lao động có hợp đồng xác định thời hạn, không xác định thời hạn, hoặc hợp đồng mùa vụ/công việc từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng bắt buộc tham gia; người sử dụng lao động không bị giới hạn quy mô lao động (thay đổi tích cực so với mốc tối thiểu 10 lao động tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP trước đây). Tác giả chỉ ra khoảng trống pháp lý khi chưa bao phủ người lao động có hợp đồng dưới 03 tháng, lao động giúp việc gia đình, lao động khu vực phi chính thức và lao động nước ngoài tại Việt Nam (trong tổng số 18,26 triệu người tham gia BHXH bắt buộc cả nước, chỉ có 14,7 triệu người tham gia BHTN, còn gần 1,7 triệu lao động chưa tham gia).
- Mức đóng và mức hưởng: Người lao động đóng 1% tiền lương tháng; Người sử dụng lao động đóng 1% quỹ tiền lương tháng; Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% (chính sách hỗ trợ đặc thù Nghị quyết 116/NQ-CP đã hạ mức đóng của doanh nghiệp xuống 0% giai đoạn 01/10/2021–30/9/2022). Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề (tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở hoặc lương tối thiểu vùng).
- Các chế độ khác: Tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; Hỗ trợ học nghề (tối đa 6 tháng, định mức tối đa 4,5 triệu đồng/người/khóa dưới 3 tháng và 1,5 triệu đồng/người/tháng cho khóa trên 3 tháng); Hỗ trợ người sử dụng lao động kinh phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề để duy trì việc làm (tối đa 1 triệu đồng/người/tháng, thời gian tối đa 6 tháng khi đáp ứng 4 điều kiện nghiêm ngặt theo Điều 47 Luật Việc làm 2013).
- Quỹ BHTN và Chế tài: Quy định cơ chế tạo lập, đầu tư sinh lời của Quỹ BHTN và các chế tài xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 12/2022/NĐ-CP.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận
Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn triển khai chính sách BHTN gắn liền với đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương:
- Tình hình kinh tế - xã hội và lao động việc làm: Năm 2023, dân số trung bình Ninh Thuận đạt 601.217 người; lực lượng lao động đang làm việc đạt 331,8 nghìn người; toàn tỉnh giải quyết việc làm mới cho 18.084 lao động (nội tỉnh: 9.070 người, ngoại tỉnh: 8.843 người, xuất khẩu lao động: 171 người).
- Kết quả đạt được giai đoạn 2020–2023:
- Độ bao phủ đối tượng tham gia: Số người tham gia BHTN tăng đều qua các năm: 31.788 người (2020), 33.265 người (2021), 38.022 người (2022) và đạt 40.177 người vào năm 2023 (đạt 100,8% kế hoạch, chiếm 15,13% lực lượng lao động trong độ tuổi).
- Giải quyết trợ cấp thất nghiệp: Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp đạt đỉnh vào năm 2020 với 5.205 người do tác động trực tiếp của đại dịch COVID-19; duy trì ở mức 4.395 người (2022) và 4.592 người (2023). Phân tích cơ cấu nộp hồ sơ năm 2023 chỉ ra: lao động dưới 35 tuổi nộp hồ sơ cao gần gấp đôi nhóm trên 35 tuổi (do cơ cấu kinh tế công nghiệp - xây dựng chiếm 53–54%); lao động nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới, tập trung ở các ngành dệt may, thêu ren (20–25%), bán hàng và kế toán; số lượng hồ sơ có xu hướng tăng mạnh vào các tháng giữa năm.
- Công tác thu - chi quỹ: Tổng thu BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn tăng trưởng ổn định: năm 2021 đạt 1.161 tỷ đồng, năm 2022 đạt 1.241,6 tỷ đồng và năm 2023 đạt 1.383,3 tỷ đồng (đạt 101,44% kế hoạch giao).
- Hỗ trợ việc làm và học nghề: Toàn tỉnh có 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với quy mô trên 9.000 người/năm. Năm 2023, phiên giao dịch việc làm lưu động đã giúp 556 người tìm được việc làm (trong đó 212 lao động hưởng BHTN được kết nối việc làm); hỗ trợ học nghề cho lao động BHTN đạt 16.000 lượt người (đạt 162,76% kế hoạch).
- Công tác thanh tra, kiểm tra: Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW, tỉnh đã tiến hành 132 cuộc thanh tra tại 730 đơn vị; thu hồi 25.302 triệu đồng tiền nợ BHXH, BHTN (đạt tỷ lệ 76%); yêu cầu truy thu đối với 558 lao động chưa đóng hoặc đóng thiếu với số tiền 1.769 triệu đồng; kiến nghị thu hồi 178 triệu đồng từ 101 trường hợp hưởng sai chế độ.
- Tồn tại, hạn chế: Chính sách hỗ trợ học nghề chưa thực sự phát huy vai trò chủ đạo như một giải pháp căn bản lâu dài (người lao động chủ yếu quan tâm nhận trợ cấp bằng tiền mặt); tình trạng nợ đọng, chậm đóng, trốn đóng BHTN của một số doanh nghiệp vẫn tiếp diễn; mức đóng cố định 1% chưa thực sự linh hoạt theo biến động kinh tế.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận
Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Mở rộng diện đối tượng bắt buộc tham gia BHTN đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng, người lao động là công dân nước ngoài làm việc hợp pháp tại Việt Nam và từng bước áp dụng chính sách BHTN tự nguyện cho khu vực phi chính thức.
- Điều chỉnh cơ chế đóng quỹ BHTN theo hướng linh hoạt mức đóng căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ thay vì mức cố định cứng nhắc 1%.
- Tăng cường chế tài hành chính và hình sự đối với các hành vi trốn đóng, nợ đóng, chiếm dụng tiền BHTN của người sử dụng lao động.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi tại tỉnh Ninh Thuận:
- Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Dịch vụ việc làm và cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh.
- Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành; xử lý nghiêm minh các hành vi trục lợi chính sách và giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo.
- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật BHTN qua các kênh số (Website, Facebook, Zalo của Trung tâm Dịch vụ việc làm) nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp số liệu phát triển bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận (2020–2023)
| Chỉ tiêu thống kê |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
| Số người tham gia BHTN (người) |
31.788 |
33.265 |
38.022 |
40.177 |
| Tỷ lệ tham gia/lực lượng lao động trong độ tuổi (%) |
— |
— |
— |
15,13% |
| Số người có quyết định hưởng TCTN (người) |
5.205 |
4.395 |
4.395 |
4.592 |
| Tổng thu BHXH, BHYT, BHTN toàn tỉnh (tỷ đồng) |
— |
1.161,0 |
1.241,6 |
1.383,3 |
| Số lượt hỗ trợ học nghề/tư vấn việc làm (lượt người) |
— |
— |
16.540 |
16.000 |
Kết quả và đóng góp chính
- Đóng góp lý luận: Làm rõ bản chất pháp lý và hệ thống 5 nguyên tắc cốt lõi của BHTN theo Luật Việc làm 2013; chỉ ra các điểm bất cập trong quy định hiện hành về đối tượng tham gia, thời gian tích lũy đóng hưởng (tình trạng đóng 12 tháng hay 36 tháng đều hưởng 3 tháng trợ cấp khiến một bộ phận lao động có xu hướng nghỉ việc ngắn hạn để nhận tiền mặt).
- Đóng góp thực tiễn: Khóa luận là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu toàn diện việc thực hiện pháp luật BHTN trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2020–2023; tổng kết chi tiết các số liệu về phát triển đối tượng, thu chi quỹ, kết quả thanh tra thu hồi nợ đọng (thu hồi 25.302 triệu đồng nợ đọng, xử lý 558 lao động bị đóng thiếu/chưa đóng).
- Hệ thống kiến nghị: Đưa ra các giải pháp sửa đổi luật và các đề xuất thực tiễn phù hợp với đặc thù kinh tế biển và cơ cấu lao động ngành công nghiệp - xây dựng tại tỉnh Ninh Thuận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Khóa luận tiếp cận thuần túy dưới góc độ khoa học luật học và phân tích báo cáo hành chính, chưa sử dụng phương pháp khảo sát xã hội học định lượng diện rộng trên mẫu người lao động để đo lường mức độ hài lòng hoặc hành vi trục lợi chính sách.
- Phạm vi dữ liệu thực tiễn tập trung trong phạm vi hành chính tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2020–2023, chưa so sánh đối chiếu sâu với các tỉnh lân cận thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế tài chính và tính bền vững của Quỹ BHTN khi mở rộng diện bao phủ sang khu vực lao động phi chính thức.
- Đánh giá tác động pháp luật khi dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) được Quốc hội thông qua và áp dụng vào thực tiễn địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Sinh viên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội cần tài liệu tham khảo về cấu trúc đề tài đánh giá thực thi pháp luật cấp tỉnh.
- Cán bộ quản lý và cơ quan thực thi chính sách: Cán bộ công tác tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Dịch vụ việc làm và Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Thuận cũng như các địa phương có điều kiện kinh tế tương đồng trong công tác thanh tra, quản lý đối tượng và tổ chức sàn giao dịch việc làm.
- Phần đáng tham khảo nhất: Tiểu mục 1.3 (Pháp luật hiện hành về BHTN) với hệ thống điều khoản đối chiếu chi tiết; và Mục 2.2 (Thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN tại tỉnh Ninh Thuận) chứa đựng dữ liệu thực tế giai đoạn 2020–2023.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Việc làm năm 2013 bộc lộ khoảng trống gì về đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp?
Luật chưa quy định bắt buộc tham gia BHTN đối với: người lao động có hợp đồng dưới 03 tháng, lao động giúp việc gia đình, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và toàn bộ khu vực lao động phi chính thức. Điều này dẫn đến sự chênh lệch lớn giữa số người tham gia BHXH bắt buộc (18,26 triệu người) và số người đóng BHTN (14,7 triệu người) trên cả nước.
2. Số lượng người tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận thay đổi như thế nào giai đoạn 2020–2023?
Số người tham gia BHTN tại Ninh Thuận tăng liên tục qua các năm: từ 31.788 người (năm 2020), lên 33.265 người (năm 2021), 38.022 người (năm 2022) và đạt 40.177 người vào năm 2023 (đạt 100,8% kế hoạch giao, chiếm 15,13% lực lượng lao động trong độ tuổi của tỉnh).
3. Đặc điểm cơ cấu lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Ninh Thuận năm 2023 có gì đáng chú ý?
Nhóm lao động dưới 35 tuổi có số lượng nộp hồ sơ cao gần gấp đôi nhóm trên 35 tuổi (do cơ cấu kinh tế tỉnh tập trung vào công nghiệp - xây dựng chiếm 53–54%); lao động nữ nộp hồ sơ chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới (nghề may mặc, thêu chiếm từ 20–25%, bên cạnh kế toán, bán hàng); các tháng giữa năm có lượng hồ sơ nộp tăng mạnh hơn đầu năm và cuối năm.
4. Kết quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, BHTN tại Ninh Thuận sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW ra sao?
Tỉnh đã tổ chức 132 cuộc thanh tra tại 730 đơn vị; thu hồi được 25.302 triệu đồng tiền nợ BHXH, BHTN (đạt tỷ lệ 76%); truy thu 1.769 triệu đồng đối với 558 lao động bị đơn vị chậm đóng, đóng thiếu thời gian hoặc mức đóng; kiến nghị thu hồi 178 triệu đồng đối với 101 trường hợp hưởng sai chế độ.
5. Người sử dụng lao động phải đáp ứng những điều kiện nào để được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề duy trì việc làm cho người lao động?
Người sử dụng lao động phải đóng đủ BHTN liên tục từ đủ 12 tháng trở lên tính đến tháng liền trước tháng đề nghị; gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc lý do bất khả kháng buộc phải thay đổi cơ cấu/công nghệ; không đủ kinh phí tổ chức đào tạo (xác định qua báo cáo sản xuất kinh doanh bị lỗ có xác nhận của cơ quan thuế); và có phương án đào tạo, bồi dưỡng được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Hải Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Việc làm năm 2013. Bằng việc phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2020–2023 tại tỉnh Ninh Thuận, công trình đã phản ánh chính xác kết quả mở rộng đối tượng, thu chi quỹ, công tác hỗ trợ việc làm cũng như chỉ ra các bất cập trong khâu đào tạo nghề và xử lý nợ đọng bảo hiểm. Các kiến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ, góp phần cung cấp luận cứ thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương.