Chương 1. Mét số van dé lý luân về bảo hiểm that nghiệp và pháp luật hiện hành về bão hiểm that nghỉ ệp. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bão hiểm that nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận. Một sô kiến nghị nhằm hoản thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua thực hiện pháp luật về bao hiểm thất nghiệp tại tinh Ninh Thuận CHUONG 1 MOT SÓ VAN DE LY LUẬN VE BAO HIEM THAT NGHIỆP VA PHÁP LUAT HIỆN HANH VE BAO HIEM THAT NGHIỆP 1.
Một số van đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bão hiém thất nghiệp Theo Tô chức lao động Thê giới (ILO), tại Điều 20 Công ước 102 đã đưa ra định nghĩa về that nghiệp: “That nghiệp là sự ngừng thu nhập do NLD không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sang lam việc”. Như vậy, Công ước của ILO đã xác định người that nghiệp là hiện tương để chỉ người ở độ tuôi lao động theo quy định của pháp luật, không có việc lam, có khả năng làm việc, đang di tìm việc làm. BHTN là một bô phận của bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ NLD trong trường hợp bị mat việc làm 3 That nghiệp là tinh trạng tôn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn lảm việc nhưng không thể tìm được việc lam ở mức tiên lương thịnh hành, người that nghiệp là người không có việc làm, không làm kế cả một giờ (trong tuân lễ điều tra) và dang đi tim việc lam, có đủ điêu kiện lam việc ngay nhưng không có việc làm * Dưới góc độ kinh tế - xã hội, BHTN được hiểu là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trang thất nghiệp, giúp người that nghiệp tạm thời dam bao cuộc sống va tim kiếm việc làm thông qua việc tạo lập và sử dụng một quỹ tiên tệ tập trung.
Quỹ nay được hình thành do sự đóng góp của NLD va NSDLĐ, có sự hỗ trợ của Nhả nước, được sử dụng đề trả trợ cấp cho người thất nghiệp, cũng như tiền hành các biên pháp nhằm nhanh chóng giúp người thất nghiệp có được việc lam mới”. BHTN giúp khắc phục hậu quả của tinh ` hatps Itapchicongimang mvbai-t itis ot-so-diem -bat-cep trong, đục do Dao him tht ng theo-qay-dinh-cim-phap- t-vietrum- 105709 him #-~ teđ= Khai? 2Oniém 9⁄206802⁄20tu2n 2⁄20láfvà⁄20s6n4305ùng2⁄43080 ⁄4303Šc "truy cập ngày 10/02/2034. l ae = a xe + 1à Thị Hoài Thm (2002), Phip kật và chink síchbão hễ» thếtnghập - Một số nghên cứu so sárttvà kiến nghị Tạp chứkhoa hoc DHOGHN Kin - Luit, tr40 “ Trường Đại học Luật Hi Nội (2022), Giáo tinh Luật a sinh xt hội. NXB Tuphíp, Hh Nội s trạng thất nghiệp, hỗ trợ người thât nghiệp tạm thời dam bảo được cuộc sông và tìm kiém được việc lam.
Dưới góc độ pháp lý, BHTN là tổng thé các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình xây dựng và sử dung quỹ BHTN. Theo đó, BHTN được quy đính tại khoản 4 Điều 3 Luật việc lam năm 2013: “Bao hiểm that nghiệp là chế 46 nhằm bù đắp một phan thu nhập của NLD khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLD học nghệ, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sỡ đóng vào Quỹ bao hiểm thất nghiệp”. Khái niệm nay được quy định so với tiêu chuẩn của Công ước 102 của ILO, về cơ bản đã tương đôi toàn điện, thể hiện được bản chất của BHTN. Như vay, BHTN là một chính sách an sinh xã hội nhằm hỗ trợ tai chính cho NLD khi ho bi mat việc làm không do lỗi của bản than.
BHTN có thé coi là biện pháp hay nhất hiện nay nhằm mục tiêu giúp đỡ NLĐ khắc phục tình trang that nghiệp, hỗ trợ kịp thời cho những người thất nghiệp không có việc làm trong thời gian thất nghiệp mả không kiêm được việc lảm và cung cấp thời cơ cho ho học nghệ, tìm kiếm việc lam mới. NLD tham gia BHTN sé được hưởng trợ cấp khi đáp ứng các điêu kiện quy định Bên cạnh đó, NLD được hỗ trợ thông qua các hoạt đông đào tạo nghề, tư van, giới thiệu việc làm, giúp tìm được một việc làm mới thích hợp và ôn định. Nguôn tài chính hỗ trợ cho người thất nghiệp được lây từ quỹ BHTN. Đặc điêm của bão hiém thất nghiệp Thứ nhất.
về đôi tương tham gia BHTN chủ yêu la NLD, NSDLĐ. NLD trong độ tuôi lao đông, có sức lao động nhưng bi mất việc làm, tạm thời không có thu nhâp và có nhu cau lam việc. NLD luôn la đối tượng chính và được quan tâm bảo dam quyển lợi hang dau của BHTN. Vì khi xảy ra biến đông về kinh tế xã hội thi NLD sẽ là đối tượng chịu ảnh hưởng nặng né nhật với nguy cơ mất việc lam va tốn thất về thu nhập.
Tuy nhiên, đôi tương được hưởng của TCTN thường hep hơn đối tượng that nghiệp thực tế. Nói cách khác là không phải moi người that nghiệp đều được hưởng TCTN, chỉ những NLĐ tham gia đóng BHTN vả đâm bão các điều kiện theo quy định thi mới được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách BHTN Khi that nghiệp. Đôi với NSDLĐ thì họ không phải đối tượng được hưởng lợi trực tiếp từ các chế độ của BHTN. NSDLĐ tham gia vào BHTN thông qua việc đóng BHTN với mức đóng BHTN tương đương với NLĐ.
Qua đó, thể hiện được trách nhiệm của mình đổi với NLD, tạo ra sư gắn bó trong môi quan hệ giữa NSDLD va NLD, nâng cao được tâm ly làm việc và tăng hiệu quả công việc, từ đó gián tiếp mang lại những lợi ich cho NSDLĐ, Đôi với Nhà nước, Nhà nước sé có vai trò quan trong trong việc hỗ trợ một phan tải chính tương đương với mức đóng góp NLD và NSDLD, qua đó góp phân xây dựng nên quỹ BHTN. Thứ hai, việc xác định điều kiên hưởng TCTN khó khăn hơn so với các chế độ bao hiểm x4 hội khác. Điều nay lả do ranh giới giữa làm việc và không làm việc, có và không có thu nhập không rố rang và khó xac định va kiếm chứng trên thực tế. Do đó, việc xác định chính xác điều kiện dé NLD nhận TCTN là rat khó khăn trên thực tê.
Thứ ba, BHTN là một chính sách của Nhà nước, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với NLD bị mất việc và cả đối với NSDLD. Nha nước sử dụng các biện pháp, công cu chính sách bao gôm các quy định về quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của những người tham gia BHTN; cơ cấu td chức, thẩm quyên, trách nhiém của các cơ quan chức năng, quy đính về nguồn tài chính và các chế độ BHTN, qua đó để dam bao thực hiện tốt trách nhiệm của Nha nước đôi với NLD và NSDLD Nha nước vừa ban hảnh chính sách, vừa trở thành đôi tương tham gia chính sách. Điêu này giúp cho BHTN được hình thành với quy mô lớn hơn vả được triển khai hiệu quả hơn. Với sự quan ly và hỗ tro của Nha nước không chi góp phan dam bao cuộc sống cho NLD that nghiệp, tạo cơ hội để họ sớm quay trở lại thi trường lao đông Thứ tự mục dich của BHTN giúp cho NLD quay trở lại thị trường lao động với các chê đô BHTN được quy định như cung cập thông tin thị trường lao đông, giới thiệu việc lam, dao tao nghề, tao việc lam tam thời.
Ngoài ra, cơ chế hưởng BHTN thi mức hưởng phụ thuôc vào thời gian đóng va số tiên NLĐ,NSDLĐ đã đóng Điễm khác biệt của BHTN so với loại bao hiểm khác là cơ quan thực hiên BHTN không chỉ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ ma còn phải nắm bắt thông tin về thi trường lao động dé tư van, giới thiêu việc lam, hỗ trợ công tác dao tạo nghé cho NLD bi that nghiệp Thứ năm, viéc triển khai các chế độ BHTN rất phức tạp và việc quản ly rất khó khăn. Không thé dự đoán chính xác quy mô that nghiệp và tỷ lệ that nghiệp, điều nay gây khó khăn lớn cho công tác kế toán va thu chi của quỹ BHTN. Hoạt động của BHTN có múi liên hệ chặt chế với hệ thông day nghệ, trung tâm dich vụ việc làm va kê hoạch việc lam quốc gia, đòi hỏi sự phối hợp đông bộ giữa các cơ quan quan lý để cùng các cơ quan, ban ngành trong Tĩnh vực lao đông, việc lam quản ly BHTN. BHTN không chỉ giới hạn ở hoạt động kinh doanh bao hiểm xã hội thuan túy mà còn phải giúp NLD tìm kiếm và tạo cơ hội việc lam Đây là hai chức năng cơ bản của BHTN va là điểm khác biệt cơ bản giữa BHTN và các ché độ bảo hiểm xã hội khác.
Ý nghia của bảo hiém that nghiệp Tint nhất, BHTN góp phan giải quyết tam thời các khó khăn về tai chính cho người thất nghiệp, giúp họ sớm tìm được việc làm. BHTN đảm bảo đời sông vat chất cơ ban cho người that nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định sau khi ho mat việc lam và cung cấp mét phân tài chính, chế đô hỗ tro để người that nghiệp nhanh chóng tim kiêm được việc lam Như vậy, việc tham gia đóng góp BHTN được coi là một hoạt động chủ đông phòng chồng rủi ro trong tương lai cho bản thân va chia sẻ rủi ro với công đông. Thứ hai, BHTN thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra một xã hội nhân văn, giảm thiêu sự bất công và các tệ nạn xã hội. Nhờ có BHTN, khi NLD bị mật việc, NSDLĐ sẽ tiết kiệm được chi phí và chủ đông sử dung NLD, tạo động lực phát triển sản xuất.
Bên cạnh đó, BHTN góp phân phát triển xã hội hai hòa. Dé thoát khỏi gánh năng của việc that nghiệp, NLD đã phải chấp nhận làm những công việc không đúng với trình đô, năng lực của mình với mức lương không tương xứng, làm việc trong môi trường làm việc độc hại và điều kiện lao đông không dam bảo. Điều đó gây ra thiệt thoi cho người lao động, lãng phí nguồn nhân lực của thi trường lao động, làm cho thi trường lao động phát triển một cách không lành mạnh. Các chính sách của BHTN giúp NLĐ phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực trong thời gian bị mất việc lam, không phải vội vã tìm kiềm những việc lam khiến họ cảm thây không thích hợp Thứ ba BHTN thể hiện sự tiền bộ, hoàn chỉnh trong hệ thông pháp luật.
BHTN vừa là công cụ bao vệ quyên và lợi ích của NLD vừa là biện pháp tích cực nhằm xóa bỏ tinh trạng thất nghiệp 1.