Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Quyền có việc làm của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Thị Tuyết Nhung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số: 62 38 01 07).

Về tính cấp thiết, tác giả xác định việc bảo đảm quyền có việc làm cho người lao động (NLĐ) là tiền đề để sử dụng và phát huy nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nhà nước đã ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật Lao động (BLLĐ), Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), Luật Việc làm, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cùng các chính sách bảo vệ nhóm lao động yếu thế (lao động nữ, người khuyết tật, người chưa thành niên). Các chính sách này tạo hành lang pháp lý giúp hàng năm giải quyết việc làm cho từ 1,5 đến 1,6 triệu người trong độ tuổi. Tuy nhiên, việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa thường xuyên. Thị trường lao động (TTLĐ) phát triển không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại ba vùng kinh tế trọng điểm; di chuyển lao động diễn ra tự phát từ Bắc vào Nam và từ nông thôn ra thành thị; hệ thống thông tin TTLĐ chưa hoàn thiện; tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm diễn biến phức tạp; phát sinh hiện tượng lừa đảo trong xuất khẩu lao động (XKLĐ). Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật lao động (PLLĐ) về quyền có việc làm là yêu cầu cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về quyền có việc làm của NLĐ và pháp luật điều chỉnh quyền này; đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn thi hành tại Việt Nam; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định PLLĐ, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể bảo đảm quyền có việc làm.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, xác định cơ sở lý thuyết, giả thuyết và hệ câu hỏi nghiên cứu.
  2. Làm rõ các quan điểm khoa học về quyền có việc làm, nhu cầu và nội dung điều chỉnh pháp luật đối với quyền này.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thực thi PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm, chỉ ra hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  4. Đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đánh số theo văn bản luận án gồm:

  • (i) Khái niệm, đặc điểm quyền có việc làm của NLĐ?
  • (ii) Tại sao quyền có việc làm của NLĐ phải được điều chỉnh bằng pháp luật?
  • (iii) Thực trạng PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ?
  • (iv) Thực tiễn thi hành PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ hiện nay như thế nào? Các hạn chế, bất cập và nguyên nhân?
  • (v) Những định hướng để hoàn thiện PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ được xác định như thế nào?
  • (vi) Các giải pháp hoàn thiện PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ trong thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: các quy định PLLĐ Việt Nam hiện hành về quyền có việc làm của NLĐ còn nhiều bất cập, thiếu sót, chưa bảo vệ và bảo đảm đầy đủ quyền này; hiệu quả thực thi còn thấp; Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền làm việc nhưng việc cụ thể hóa quyền có việc làm dưới góc độ quyền con người chưa được triển khai đồng bộ; bối cảnh gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện hệ thống PLLĐ.

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn, nội dung pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia liên quan đến quyền có việc làm, cùng thực trạng quy định và thực tiễn thực thi PLLĐ Việt Nam về quyền có việc làm của NLĐ. Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung vào các quy định PLLĐ Việt Nam từ thời điểm BLLĐ năm 2012 có hiệu lực đến năm 2016. Luận án giới hạn không đi sâu nghiên cứu hoặc chỉ đề cập ở mức độ nhất định đối với các nội dung về nguồn nhân lực nói chung, lao động trẻ em, lao động là người giúp việc gia đình, lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, giải quyết tranh chấp lao động và đình công.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo hai khu vực:

Ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu được điểm lại gồm:

  • Công trình Chính sách Lao động Việc làm của Hàn Quốc 2010 của Bahk Jaewan (Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc) phân tích chính sách bảo đảm quyền của NLĐ, việc làm chất lượng, giờ làm việc linh hoạt, tiền lương quá hạn, lương tối thiểu và bảo hiểm tai nạn lao động.
  • Nghiên cứu Quyền của NLĐ theo pháp luật của Nhật Bản của Mutsuko Asakura phân tích các tiêu chuẩn lao động, quan hệ lao động (QHLĐ) theo Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản và trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm hại quyền của NLĐ.
  • Bài viết Employee job rights: Foundation Considerations của Molz Rick (1987) trên Tạp chí Journal of Business Ethics phân tích quyền giữ việc làm của NLĐ và sự ràng buộc trách nhiệm giữa NLĐ và người sử dụng lao động (NSDLĐ).
  • Sách chuyên khảo Globalization and the future of labour law (2006) của John D. đề cập vấn đề cấm sa thải phân biệt đối xử đối với lao động nữ mang thai và bảo đảm điều kiện làm việc bình đẳng sau sinh.
  • Các công ước quốc tế của Liên Hợp quốc (Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền - UDHR, Công ước ICESCR, Công ước ICCPR) và các tiêu chuẩn lao động quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).

Ở trong nước, các nghiên cứu được phân thành hai nhóm:

  • Nhóm 1 về lý luận quyền con người trong lĩnh vực lao động và quyền làm việc: Bộ sách về quyền con người do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người do PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, ThS. Vũ Công Giao và ThS. Lã Khánh Tùng đồng chủ biên; luận án tiến sĩ của Bùi Anh Tuấn về tạo việc làm qua vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); luận án tiến sĩ của Trần Thị Thu về việc làm cho lao động nữ tại Hà Nội; bài viết của PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương về các điều kiện bảo đảm quyền kinh tế; bài nghiên cứu của TS. Phạm Thị Thúy Nga về bảo đảm quyền tự do việc làm; chuyên khảo của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu về bảo đảm quyền con người trong PLLĐ Việt Nam; tài liệu giới thiệu ICESCR của Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người - Quyền công dân thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Nhóm 2 về các quy định và thực trạng thực thi PLLĐ Việt Nam: Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội (TS. Lưu Bình Nhưỡng chủ biên, 2013), Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (PGS. Trần Hoàng Hải chủ biên, 2013), Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Phạm Công Trứ chủ biên, 1990); sách chuyên khảo Pháp luật HĐLĐ Việt Nam thực trạng và phát triển của TS. Nguyễn Hữu Chí (2003); luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hoa Tâm về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ); bài viết của Nguyễn Thúy Hà về chính sách việc làm giai đoạn 2016 - 2020; các bài viết chuyên đề của Tuấn Kiệt, Hải Châu, Thanh Hoài, Trương Lê Mỹ Ngọc, Thanh Hằng, La Hoàn, Hoàng Tuyết, Trần Tố Hảo, Vũ Đức Đam.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề việc làm ở khía cạnh kinh tế học hoặc nghiên cứu các chế định pháp lý đơn lẻ (HĐLĐ, chấm dứt HĐLĐ, việc làm qua vốn FDI, bảo đảm quyền tự do việc làm chung), chưa có công trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về quyền có việc làm của NLĐ dưới góc độ quyền con người trong khoa học pháp lý lao động Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xác lập khung khái niệm, chỉ ra các đặc điểm pháp lý riêng biệt của quyền có việc làm, phân định ranh giới giữa quyền có việc làm và quyền làm việc, đồng thời đánh giá toàn diện hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn thực thi tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba nhóm cơ sở lý thuyết:

  1. Lý thuyết về quyền con người: tiếp cận định nghĩa của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam coi quyền con người là sự kết hợp giữa nhu cầu tự nhiên vốn có và sự thừa nhận pháp lý.
  2. Lý thuyết về quyền làm việc và quyền có việc làm dưới góc độ quyền con người: dựa trên Điều 23 UDHR, Điều 6 ICESCR và Bình luận chung số 18 của Ủy ban Kinh tế, Xã hội và Văn hóa của Liên Hợp quốc.
  3. Lý thuyết về nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quyền có việc làm: xuất phát từ quy luật vận động của kinh tế thị trường, tính chất bất bình đẳng về vị thế kinh tế giữa các bên trong QHLĐ và mục đích an sinh xã hội.

Tác giả đưa ra định nghĩa khoa học về quyền có việc làm của NLĐ: "Quyền có việc làm của NLĐ là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm, thu nhập, chế độ BHXH và các chế độ khác khi người NLĐ tham gia QHLĐ theo quy định của PLLĐ". Khái niệm này có ba đặc điểm cơ bản:

  • Là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm không bị pháp luật cấm.
  • Là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về thu nhập (tiền lương, thưởng, phụ cấp).
  • Là quyền được bảo vệ và bảo đảm các chế độ an sinh xã hội, trước hết là BHXH và các điều kiện làm việc an toàn.

Về phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người, quyền công dân. Các phương pháp cụ thể được phân bổ theo từng chương:

  • Chương 1: Phương pháp tổng hợp, thống kê, thu thập, phân tích, tiếp cận đa ngành.
  • Chương 2: Phương pháp tổng hợp, lịch sử, thống kê, quy nạp, phân tích, diễn giảng, chứng minh.
  • Chương 3: Phương pháp phân tích, so sánh pháp luật, quy nạp lịch sử, khảo sát thực tiễn, phân tích số liệu thống kê của cơ quan quản lý nhà nước về lao động, dự báo khoa học.
  • Chương 4: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, kế thừa, so sánh và dự báo.

Nguồn dữ liệu và tư liệu: Các văn kiện quốc tế (UDHR, ICESCR, ICCPR; 5 công ước cơ bản của ILO mà Việt Nam đã phê chuẩn gồm Công ước 29, 100, 111, 138, 182); hệ thống pháp luật của các quốc gia (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Lào, Thái Lan, Canada, Hoa Kỳ...); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Hiến pháp năm 2013, BLLĐ năm 2012, Luật Việc làm năm 2013, Luật BHXH năm 2014, Luật Giáo dục nghề nghiệp...); các báo cáo tổng kết, số liệu thống kê quản lý lao động và các bản án thực tiễn của Tòa án nhân dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền con người trong lao động, quyền làm việc và quyền có việc làm. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã phân tích sâu các tiêu chuẩn lao động kỹ thuật, trách nhiệm bảo đảm việc làm của nhà nước và chống phân biệt đối xử. Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã phân tích việc làm dưới góc độ kinh tế học hoặc từng chế định cụ thể của PLLĐ nhưng chưa làm rõ bản chất pháp lý của quyền có việc làm dưới lăng kính quyền con người.

Từ đó, chương này xác định khung lý thuyết nghiên cứu, hệ thống hóa các khái niệm công cụ, xây dựng 6 câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học làm cơ sở triển khai các nội dung tiếp theo của luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về quyền có việc làm của người lao động trong pháp luật lao động

Chương 2 làm rõ nguồn gốc quyền có việc làm xuất phát từ quyền con người. Tác giả phân tích các định nghĩa về việc làm (theo Điều 9 BLLĐ năm 2012, việc làm đòi hỏi hai điều kiện: là hoạt động tạo ra thu nhập và không bị pháp luật cấm) và định nghĩa về NLĐ trong luật pháp quốc tế cũng như các quốc gia (Singapore, Philippines).

Nội dung so sánh Quyền làm việc (Right to work) Quyền có việc làm (Right to have a job)
Phạm vi nội hàm Rộng hơn, mang tính nguyên tắc cơ bản của quyền con người; bao gồm tự do chọn nghề, nơi làm việc và cơ chế chính sách của Nhà nước. Hẹp hơn, là sự biểu hiện cụ thể hóa và trực tiếp nhất của quyền làm việc trong thực tế.
Điều kiện xác lập Gắn liền với quyền tự nhiên của cá nhân khi có sức lao động, không bị cưỡng bức lao động. Gắn với tư cách pháp lý cụ thể: đủ tuổi, có sức lao động, giao kết HĐLĐ với NSDLĐ, được trả lương và hưởng chế độ BHXH.
Bản chất pháp lý Cơ hội kiếm sống do cá nhân tự do lựa chọn hoặc chấp thuận; quyền không bị đuổi việc vô cớ. Quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm, thu nhập và các chế độ bảo trợ xã hội khi tham gia QHLĐ.

Tác giả tổng hợp 21 quyền cơ bản của NLĐ theo tiêu chuẩn ILO và đối chiếu với 5 nhóm quyền của NLĐ được ghi nhận tại Điều 5 BLLĐ năm 2012 của Việt Nam.

Về nghĩa vụ của quốc gia, tác giả phân tích Bình luận chung số 18 của Ủy ban Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (Liên Hợp quốc), trong đó quy định 3 mức độ nghĩa vụ của Nhà nước đối với quyền làm việc:

  • Nghĩa vụ tôn trọng: Ngăn cấm lao động cưỡng bức, ngăn cấm lao động trẻ em dưới 16 tuổi.
  • Nghĩa vụ bảo vệ: Thực hiện các biện pháp pháp lý bảo đảm tiếp cận việc làm bình đẳng, ngăn chặn khu vực tư nhân xâm phạm quyền lao động, thiết lập cơ chế bồi thường khi mất việc và kế hoạch chống thất nghiệp.
  • Nghĩa vụ hỗ trợ: Ban hành các chương trình giáo dục hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng và cung cấp thông tin thị trường.

Chương này cũng khảo cứu kinh nghiệm quốc tế về trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm công bằng việc làm cho các nhóm lao động đặc thù:

  • Lao động nữ: Luật pháp Philippines, Indonesia, Lào, Trung Quốc quy định cấm sa thải vì lý do kết hôn, mang thai và cấm phân biệt đối xử trong tuyển dụng, trả lương.
  • Lao động trẻ em: Công ước số 182 và Công ước số 138 của ILO; pháp luật các nước quy định độ tuổi tối thiểu đi làm việc (Hàn Quốc, Philippines, Nga quy định 15 tuổi; Trung Quốc, Brunei quy định 16 tuổi) cùng các điều kiện nghiêm ngặt về giám hộ và danh mục công việc bị cấm.
  • Lao động là người khuyết tật: Phân tích các quy định hỗ trợ tại Trung Quốc (Điều 45 Hiến pháp quy định Nhà nước thu xếp việc làm), Canada (Hiến chương về Quyền tự do cấm phân biệt đối xử vì tình trạng khuyết tật) và Indonesia.
  • Các thể chế hỗ trợ việc làm: Phân tích chính sách xuất khẩu lao động tại Philippines (đưa khoảng 1 triệu lao động ra nước ngoài/năm) và Indonesia (Nghị định số PER-02/MEN1994); chiến lược thu hút vốn FDI tại Thái Lan (tỷ trọng vốn FDI/GDP tăng từ 11% trước năm 1997 lên 48% năm 2013); và hệ thống thông tin TTLĐ tại Trung Quốc theo quy định của Luật Khuyến trợ việc làm năm 2007.

Chương 3: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về quyền có việc làm của người lao động

Chương 3 phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam điều chỉnh quyền có việc làm, trọng tâm là BLLĐ năm 2012, Luật Việc làm năm 2013, Luật BHXH năm 2014 và Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006.

Nội dung đánh giá tập trung vào các nhóm quy phạm:

  • Quy định về giao kết, thực hiện, tạm hoãn và chấm dứt HĐLĐ nhằm bảo vệ sự ổn định chỗ làm việc của NLĐ.
  • Quy định về tiền lương tối thiểu, bảo đảm thu nhập và bảo vệ quyền đòi lương khi doanh nghiệp giải thể, phá sản.
  • Chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các biện pháp bảo hiểm xã hội bảo lưu việc làm, bồi dưỡng tay nghề.
  • Các quy định bảo vệ nhóm lao động đặc thù (lao động nữ, người khuyết tật, người chưa thành niên).

Về mặt thực thi, tác giả chỉ ra các hạn chế thực tiễn:

  • Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn ở mức cao tại khu vực phi chính thức.
  • Tình trạng vi phạm thời giờ làm việc, nợ đóng BHXH của các doanh nghiệp diễn ra phổ biến (dẫn chứng vụ việc 60 doanh nghiệp vi phạm quy định về số giờ lao động).
  • Công tác hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật đạt hiệu quả thấp; quy định ưu đãi thuế cho doanh nghiệp tuyển dụng từ 30% lao động khuyết tật chưa thu hút được các cơ sở kinh doanh.
  • Quản lý hoạt động XKLĐ còn sơ hở, dẫn đến tình trạng lao động bỏ trốn ở nước ngoài, lừa đảo thu phí tuyển dụng trái pháp luật.
  • Hoạt động của hệ thống Trung tâm Dịch vụ việc làm kết nối cung - cầu còn rời rạc, chưa đáp ứng nhu cầu giao dịch thực tế của TTLĐ.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật lao động về quyền có việc làm của người lao động ở Việt Nam

Chương 4 xác định các định hướng hoàn thiện PLLĐ:

  • Thể chế hóa đầy đủ các quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 trong lĩnh vực lao động.
  • Bảo đảm tính đồng bộ, tương thích giữa PLLĐ trong nước với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO và cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP, Cộng đồng Kinh tế ASEAN).
  • Cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp giữa NLĐ và NSDLĐ trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các giải pháp cụ thể được luận án đề xuất bao gồm:

  1. Sửa đổi, hoàn thiện các quy định về HĐLĐ trong BLLĐ năm 2012: xác định rõ căn cứ chấm dứt hợp đồng, hạn chế quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng tùy tiện của NSDLĐ, hoàn thiện quy định về thời giờ làm việc, làm thêm giờ.
  2. Hoàn thiện chính sách tiền lương và bảo hiểm: nâng cao tính thực thi của mức lương tối thiểu, bảo đảm tiền lương bù đắp chi phí tái sản xuất sức lao động; cải cách thủ tục tiếp cận bảo hiểm thất nghiệp và hỗ trợ học nghề.
  3. Tăng cường khung pháp lý bảo vệ lao động yếu thế: hoàn thiện các chế tài xử phạt hành vi phân biệt đối xử về giới trong tuyển dụng và thăng tiến; sửa đổi cơ chế ưu đãi tài chính - thuế khả thi hơn nhằm khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng lao động khuyết tật.
  4. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thiết chế thực thi: kiện toàn bộ máy thanh tra lao động; tăng mức chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động, lừa đảo trong xuất khẩu lao động; nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin TTLĐ quốc gia.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định các đóng góp mới về phương diện học thuật và thực tiễn:

  • Về lý luận: Là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên về quyền có việc làm của NLĐ theo PLLĐ Việt Nam tiếp cận dưới góc độ quyền con người. Luận án xây dựng khái niệm, chỉ ra các đặc trưng pháp lý của quyền có việc làm và phân định ranh giới lý luận giữa quyền làm việc và quyền có việc làm; luận giải cơ sở khoa học về nhu cầu điều chỉnh pháp luật và nghĩa vụ của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền này.
  • Về thực tiễn: Cung cấp bức tranh phân tích toàn diện thực trạng các quy định PLLĐ Việt Nam (giai đoạn thi hành BLLĐ năm 2012) và thực tiễn áp dụng; chỉ ra sự thiếu đồng bộ trong các văn bản dưới luật, bất cập trong công tác thanh tra và hạn chế của các thiết chế thị trường.
  • Về giải pháp: Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có tính hệ thống nhằm sửa đổi BLLĐ năm 2012, Luật Việc làm, Luật BHXH, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế của ILO và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quan hệ lao động điển hình theo BLLĐ năm 2012; tác giả chủ động không đi sâu nghiên cứu các nhóm quan hệ lao động đặc thù như lao động trẻ em, người giúp việc gia đình, lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, cũng như thủ tục đình công và giải quyết tranh chấp lao động.
  • Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước và các tài liệu đã công bố đến thời điểm năm 2016, chưa triển khai các cuộc điều tra xã hội học pháp lý độc lập trên diện rộng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu cơ chế bảo đảm quyền có việc làm cho các nhóm lao động phi chính thức và lao động làm việc theo các hình thức việc làm phi truyền thống.
  • Nghiên cứu tác động của việc phê chuẩn toàn bộ các công ước cơ bản còn lại của ILO và việc thực thi các cam kết lao động trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với PLLĐ Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với các đối tượng cụ thể:

  • Các cơ quan lập pháp, cơ quan quản lý nhà nước về lao động (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Tham khảo Chương 3 và Chương 4 để phục vụ hoạt động rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của BLLĐ, Luật Việc làm, Luật BHXH và nâng cao hiệu quả thanh tra lao động.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Luật Kinh tế và Luật Lao động: Tham khảo Chương 2 về khung lý luận phân định quyền có việc làm với quyền làm việc, nghĩa vụ quốc gia theo công ước quốc tế và tổng hợp các tiêu chuẩn lao động của ILO.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo luật: Sử dụng nội dung Chương 2 và Chương 3 làm tài liệu bổ trợ giảng dạy học phần Luật Lao động, chuyên đề bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực xã hội.
  • Tổ chức Công đoàn và NSDLĐ: Tham khảo để nhận diện đầy đủ trách nhiệm pháp lý trong việc bảo vệ quyền việc làm, thu nhập và BHXH cho NLĐ tại nơi làm việc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "quyền có việc làm của NLĐ" được luận án định nghĩa như thế nào?
Luận án định nghĩa: "Quyền có việc làm của NLĐ là quyền được pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm về việc làm, thu nhập, chế độ BHXH và các chế độ khác khi người NLĐ tham gia QHLĐ theo quy định của PLLĐ".

2. Điểm khác biệt căn bản giữa quyền làm việc và quyền có việc làm theo luận án là gì?
Quyền làm việc là khái niệm rộng gắn liền với quyền con người cơ bản, thể hiện quyền tự do lựa chọn công việc, nơi làm việc và cơ chế chính sách bảo đảm của xã hội. Trong khi đó, quyền có việc làm có nội hàm hẹp hơn, là sự biểu hiện cụ thể nhất của quyền làm việc khi cá nhân đến tuổi lao động, có sức lao động, xác lập HĐLĐ với NSDLĐ để nhận tiền lương và thụ hưởng các chế độ bảo trợ xã hội.

3. Theo phân tích của luận án, Bình luận chung số 18 của Ủy ban Kinh tế, Xã hội và Văn hóa xác định những nghĩa vụ tối thiểu nào của quốc gia?
Bình luận chung số 18 xác định ba nghĩa vụ cốt lõi tối thiểu: (a) Đảm bảo quyền của mỗi cá nhân có cơ hội có việc làm để có cuộc sống phẩm giá, đặc biệt đối với nhóm yếu thế; (b) Tránh áp dụng các biện pháp phân biệt đối xử và đối xử không công bằng trong cả khu vực công và tư; (c) Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về việc làm cùng kế hoạch hành động có các chỉ số đo lường định kỳ với sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động.

4. Luận án ghi nhận độ tuổi lao động tối thiểu theo pháp luật một số nước như thế nào?
Theo khảo sát của tác giả, Hàn Quốc, Philippines, Campuchia, Thái Lan và Nga quy định độ tuổi lao động tối thiểu là từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ trường hợp đặc biệt). Trong khi đó, Brunei (sửa đổi năm 2002) và Trung Quốc (quy định năm 2002) xác định độ tuổi lao động tối thiểu là từ đủ 16 tuổi trở lên.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hoàn thiện PLLĐ Việt Nam?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: sửa đổi các quy định về HĐLĐ (giao kết, thực hiện, chấm dứt) trong BLLĐ; hoàn thiện cơ chế tiền lương tối thiểu và chính sách bảo hiểm thất nghiệp; sửa đổi chính sách ưu đãi tài chính và chế tài chống phân biệt đối xử để bảo vệ lao động nữ, người khuyết tật; và tăng cường năng lực thanh tra lao động, quản lý dịch vụ việc làm cùng hoạt động xuất khẩu lao động.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Tuyết Nhung là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền có việc làm của người lao động dưới góc độ khoa học pháp lý lao động tại Việt Nam. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân định rõ nội hàm giữa quyền có việc làm và quyền làm việc, đồng thời phân tích nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế của Liên Hợp quốc và ILO. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm lập pháp quốc tế và đánh giá thực trạng thi hành Bộ luật Lao động năm 2012, luận án đã chỉ ra các hạn chế trong cơ chế quản lý thị trường lao động và đề xuất các giải pháp lập pháp, thực thi đồng bộ nhằm bảo đảm tốt hơn quyền có việc làm của người lao động trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.