Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật lao động Việt Nam về người lao động nữ và thực trạng áp dụng tại doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay" do sinh viên Thái Thị Thanh Thúy thực hiện (Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TP.HCM, năm 2013, dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Thị Kim Ngân) tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh nhóm lao động đặc thù và thực tiễn thi hành tại môi trường doanh nghiệp.
Lý do chọn đề tài:
Trong cơ cấu nhân lực xã hội, phụ nữ chiếm tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất lẫn các giá trị tinh thần. Khác với lao động nam, lao động nữ đồng thời phải gánh vác hai trọng trách: tham gia quan hệ lao động trực tiếp và thực hiện thiên chức làm mẹ, chăm sóc gia đình. Mặc dù Nhà nước Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế và ban hành hệ thống pháp luật tiến bộ (tiêu biểu là Bộ luật Lao động năm 2012 với các quy định riêng dành cho lao động nữ), việc thực thi các quy định này tại các doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập. Đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh — trung tâm kinh tế tập trung mật độ cao các khu công nghiệp, khu chế xuất và lực lượng lao động nhập cư — người lao động nữ thường phải chấp nhận nhiều thiệt thòi trước áp lực việc làm và mưu sinh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích hệ thống quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh lao động nữ và đánh giá thực trạng áp dụng tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM, nhằm chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện.
- Nhiệm vụ cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, đặc trưng tự nhiên – xã hội của lao động nữ và các chuẩn mực pháp lý quốc tế (ILO, CEDAW) cùng pháp luật Việt Nam.
- Khảo sát, phân tích tình hình lao động – việc làm và thực trạng thi hành các chế định pháp luật đối với lao động nữ tại các doanh nghiệp TP.HCM (tuyển dụng, tiền lương, thời giờ làm việc - nghỉ ngơi, an toàn - vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, hợp đồng lao động).
- Làm rõ các nguyên nhân dẫn đến tồn tại từ phía quy định pháp luật, người sử dụng lao động, bản thân người lao động và đề xuất các giải pháp khả thi.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhóm lao động nữ trong quan hệ lao động nói chung và trực tiếp là lao động nữ làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM.
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, khóa luận tập trung vào các quy định pháp luật lao động đặc thù dành riêng cho lao động nữ; về không gian, giới hạn tại các doanh nghiệp đóng trên địa bàn TP.HCM; về thời gian, phản ánh số liệu thực tế giai đoạn 2011–2013, thời điểm Bộ luật Lao động 2012 bắt đầu có hiệu lực thi hành.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý:
- Khái niệm lao động và quan hệ lao động: Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận kinh tế chính trị và quy định tại Khoản 6 Điều 3 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2012 xác định quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động.
- Khái niệm người lao động nữ: Được xác định dựa trên Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2012 (người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động) kết hợp với đặc tính tự nhiên về giới tính nữ gắn liền với chức năng thai sản, nuôi con nhỏ.
- Đặc trưng của lao động nữ: Phân định thành hai nhóm đặc điểm: đặc điểm tự nhiên (chu kỳ sinh lý, mang thai, sinh nở, cho con bú, nuôi con dưới 36 tháng tuổi theo Khoản 2 Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình) và đặc điểm xã hội (tàn dư tư tưởng phong kiến "trọng nam khinh nữ", gánh nặng công việc gia đình).
Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ phân tích:
- Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948 (Điều 2); Công ước CEDAW năm 1979 (Việt Nam phê chuẩn năm 1981); các Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) như Công ước số 3 (1919), Công ước số 100, Công ước số 111, Công ước số 183 (2000), Khuyến nghị số 191; Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR).
- Văn bản pháp luật trong nước: Hiến pháp năm 1992 (Điều 55, Điều 63); BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung) và BLLĐ 2012 (Chương X từ Điều 153 đến Điều 160 cùng các điều khoản chung Điều 11, Điều 37, Điều 90, Điều 104–116, Điều 133–146, Điều 154, Điều 186); Luật Bình đẳng giới năm 2006 (Điều 7, Điều 13); Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 (Điều 21–37, Điều 49–62); Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (Điều 9); Nghị định số 23/CP (1996), Nghị định 124/2008/NĐ-CP, Nghị định 43/2013/NĐ-CP, 44/2013/NĐ-CP, 45/2013/NĐ-CP, 46/2013/NĐ-CP; Thông tư số 03-BLĐTBXH (1997), Thông tư 21/1999/TT-BLĐTBXH, Thông tư 79/1997/TT-BTC, Thông tư 123/2012/TT-BTC.
Phương pháp nghiên cứu:
- Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Các phương pháp cụ thể gồm: phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp; phương pháp phân tích quy phạm pháp luật; phương pháp thống kê xã hội học; phương pháp tổng hợp, so sánh đối chiếu giữa quy định pháp luật và số liệu thực tế.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu sử dụng trong khóa luận được trích xuất từ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013 của Tổng cục Thống kê; Báo cáo Lương Toàn cầu 2012-2013 của ILO; Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2012; số liệu thống kê của Liên đoàn Lao động TP.HCM, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM, Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm TP.HCM, Trung tâm Sức khỏe lao động và Môi trường TP.HCM.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NỮ
Chương 1 xây dựng khung lý luận tổng quan về người lao động nữ, vai trò kinh tế - xã hội và quá trình lập pháp điều chỉnh đối tượng này:
- Bản chất quan hệ lao động và tính chất đặc thù của lao động nữ: Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, sức lao động trở thành hàng hóa. Lợi ích của người sử dụng lao động (tối đa hóa lợi nhuận, giảm chi phí) và người lao động (tối đa hóa tiền công, bảo vệ sức khỏe) có sự đối lập tự nhiên. Lao động nữ là nhóm lao động đặc thù chịu sự chi phối của các yếu tố sinh học tự nhiên và rào cản định kiến xã hội, đòi hỏi pháp luật phải can thiệp để thiết lập sự bình đẳng thực chất.
- Phong trào quốc tế và các chuẩn mực ILO: Phân tích lịch sử đấu tranh đòi quyền bình đẳng của phụ nữ (phong trào đòi quyền bầu cử tại Anh từ những năm 1830 và thắng lợi năm 1918; các cải cách pháp luật tại Nam Phi, Ma-rốc; thực trạng bạo lực và phân biệt đối xử tại Afghanistan, Sierra Leone, Papua New Guinea, Haiti, Ấn Độ). Phân tích nội dung Công ước CEDAW và các công ước ILO về bảo vệ thai sản (nghỉ tối thiểu 14 tuần theo Công ước 183, bảo đảm mức trợ cấp ít nhất 2/3 tiền lương, cấm làm việc ca đêm khi mang thai, quyền được cho con bú).
- Các nhân tố tác động tại Việt Nam:
- Năm 2012, dân số cả nước ước tính 88,78 triệu người; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 52,58 triệu người (nam chiếm 51,3%, nữ chiếm 48,7%); lực lượng lao động trong độ tuổi là 46,95 triệu người (nam 53,3%, nữ 46,7%). Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi năm 2012 là 1,99%, tỷ lệ thiếu việc làm là 2,8%.
- Tỷ lệ nữ giới trong độ tuổi lao động có việc làm đạt 83%; 68,7% cán bộ công chức và 30% chủ doanh nghiệp là nữ.
- Tác động của cơ chế thị trường, tâm lý cam chịu của phụ nữ và trình độ nhận thức pháp luật hạn chế của lao động nữ tại các khu chế xuất - khu công nghiệp (KCX - KCN) là những rào cản lớn trong việc bảo vệ quyền lợi.
- Nội dung quy định của pháp luật Việt Nam về lao động nữ: Hệ thống hóa các quy định từ Hiến pháp 1992 đến BLLĐ 2012:
- Tuyển dụng: Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới (Khoản 1 Điều 153 BLLĐ 2012).
- Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi: Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ/ngày, 48 giờ/tuần; công việc nặng nhọc, độc hại không quá 06 giờ/ngày. Lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 được giảm 01 giờ làm việc mỗi ngày hoặc chuyển làm việc nhẹ hơn mà vẫn hưởng đủ lương (Khoản 2 Điều 155). Tăng thời gian nghỉ thai sản từ 04 tháng lên 06 tháng (Điều 157). Nghỉ 30 phút/ngày trong thời gian hành kinh; nghỉ 60 phút/ngày khi nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Điều 155). Làm thêm giờ bị khống chế không quá 50% số giờ làm việc bình thường/ngày, không quá 200 giờ/năm (trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ/năm).
- Tiền lương: Bảo đảm trả lương bình đẳng không phân biệt giới tính đối với công việc có giá trị như nhau (Điều 90). Thành lập Hội đồng Tiền lương quốc gia.
- An toàn - vệ sinh lao động: Cấm sử dụng lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ngâm mình dưới nước hoặc làm việc thường xuyên dưới hầm mỏ (Điều 154, Điều 160).
- Chấm dứt hợp đồng và kỷ luật: Nghiêm cấm sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi (Khoản 3 Điều 155). Lao động nữ mang thai có quyền đơn phương chấm dứt hoặc tạm hoãn hợp đồng lao động khi có xác nhận của cơ sở y tế (Điều 156); có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị quấy rối tình dục (Điểm c Khoản 1 Điều 37). Không được xử lý kỷ luật lao động đối với phụ nữ mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Bảo hiểm xã hội: Quy định chế độ trợ cấp khám thai, sẩy thai, hút thai, chăm sóc con ốm đau dưới 07 tuổi (Điều 159 BLLĐ 2012, Điều 21–26 Luật BHXH 2006) và chế độ thai sản (Điều 27–37 Luật BHXH 2006).
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở CÁC DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Chương 2 trình bày bức tranh thực tế về tình hình quan hệ lao động tại TP.HCM và phân tích mức độ tuân thủ pháp luật tại các doanh nghiệp:
- Bối cảnh lao động và việc làm tại TP.HCM:
- 60% lao động làm việc tại các KCX - KCN TP.HCM là lao động nhập cư. Thành phố đã xây dựng 7 khu lưu trú công nhân đáp ứng trên 6.000 chỗ ở.
- Tranh chấp lao động và ngừng việc tập thể: Từ tháng 01/2013 đến tháng 05/2013, xảy ra 28 vụ tranh chấp lao động dẫn đến ngừng việc với 9.979 người tham gia (tập trung tại ngành dệt may, da giày; 50% số vụ thuộc doanh nghiệp FDI). Tính từ đầu năm 2011 đến năm 2013, toàn thành phố ghi nhận 132 vụ ngừng việc tập thể với hơn 153.000 lao động (doanh nghiệp FDI chiếm gần 63%).
- Nghịch lý cung - cầu: Phiên giao dịch việc làm lần 8/2012 có 2.489 lượt người tìm việc nhưng chỉ 547 người được tuyển. Tháng 05/2013, nhu cầu tuyển dụng toàn thành phố trên 20.000 vị trí (trong đó 48% lao động phổ thông và sơ cấp, 20% công nhân kỹ thuật/trung cấp, 15% cao đẳng, 17% đại học trở lên).
- Tác động suy thoái kinh tế: Tháng 04/2013 có 1.399 doanh nghiệp ngừng hoạt động. Từ 15/04/2013 đến 10/05/2013, có 6.800 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp.
- Thực trạng áp dụng pháp luật theo từng chế định cụ thể:
- Tuyển dụng: Tồn tại tình trạng phân biệt giới tính ngầm. Doanh nghiệp đưa ra các điều kiện trái luật như "chỉ tuyển nữ lớn tuổi, đã có con" hoặc "cam kết không sinh con trong 3 năm đầu". Về mặt chính sách ưu đãi tài chính, các văn bản như Nghị định 23/CP, Thông tư 79/1997/TT-BTC, Thông tư 123/2012/TT-BTC và Luật Thuế TNDN 2008 cho phép trừ các khoản chi thêm cho lao động nữ vào chi phí hợp lý để giảm thuế TNDN. Tuy nhiên, doanh nghiệp phản ánh quy định này làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh, dẫn tới tăng giá thành sản phẩm và làm suy giảm năng lực cạnh tranh.
- Tiền lương và thu nhập: Một số doanh nghiệp có chính sách phúc lợi tốt (Theodore Alexander khắc phục sự cố hỏa hoạn bảo đảm lương thưởng; 6 tháng đầu năm 2012 công đoàn vận động 2.378 doanh nghiệp tăng lương/phụ cấp 100.000 đồng/tháng cho 308.315 lao động; Furukawa Automotive Parts tổ chức phong trào văn hóa; Tết 2013 có 384 doanh nghiệp tặng vé xe cho 27.000 công nhân; Cholimex tặng 1.097 phần quà trị giá 750.000 đồng/phần). Ngược lại, mức lương tối thiểu chỉ đáp ứng 65%–70% nhu cầu sống tối thiểu; xảy ra tình trạng nợ lương, chủ doanh nghiệp bỏ trốn (Công ty Minh Châu, Công ty Miso, Công ty Hà Thảo); phạt trừ lương sai luật (Công ty Galaxies tại KCN Lê Minh Xuân trừ tiền chuyên cần 100.000–200.000 đồng nếu nghỉ 1–2 ngày/tháng); chênh lệch lương theo giới gia tăng 2% trong giai đoạn 2008–2011 so với 1999–2007 (theo Báo cáo Lương Toàn cầu của ILO), khảo sát năm 2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho thấy lương nữ công nhân chỉ bằng 70%–80% so với nam giới.
- Thời giờ làm việc - thời giờ nghỉ ngơi: 78,4% doanh nghiệp buộc người lao động ký thỏa thuận làm thêm giờ trước khi nhận việc; tình trạng làm thêm 4–6 tiếng/ngày diễn ra phổ biến; nhiều doanh nghiệp phớt lờ thời gian nghỉ 30 phút hành kinh và 60 phút nuôi con nhỏ; người lao động bị suy giảm sức khỏe, mắc bệnh nghề nghiệp (đứng lâu trong ngành thủy sản gây phù chân, ngồi nhiều gây thoái hóa cột sống, khung chậu dẫn đến tỷ lệ sinh mổ cao).
- An toàn lao động - vệ sinh lao động: Điểm sáng ghi nhận tại KCX Linh Trung 1 (khám sức khỏe cho 5.000 nữ lao động), Công ty Ever Win (hỗ trợ tiền ăn sáng 100.000 đồng/tháng, nhà trọ 200.000 đồng/tháng). Tồn tại: Giai đoạn 2006–2012 xảy ra 126 vụ ngộ độc thực phẩm với 9.400 ca, 5 trường hợp tử vong (suất ăn công nghiệp 8.000 đồng bị cắt xén hoa hồng chỉ còn 5.000 đồng thực tế; vụ ngộ độc trên 100 công nhân tại Công ty Takson Vina huyện Hóc Môn); tỷ lệ thiếu máu ở lao động nữ TP.HCM là 24,5% (trong khi nam giới là 10,2%); khám sức khỏe định kỳ mang tính đối phó với chi phí chỉ khoảng 30.000 đồng/người (Công ty May thêu Dintsun bố trí lao động nữ nặng 36kg, cao 1,4m, sức khỏe loại 5 làm công việc của loại 1).
- Nguyên nhân và giải pháp:
- Nguyên nhân: Do quy định pháp luật về ưu đãi thuế chưa khuyến khích được doanh nghiệp; cơ chế thanh tra, chế tài chưa đủ sức răn đe; doanh nghiệp đặt nặng mục tiêu lợi nhuận; người lao động thiếu hiểu biết pháp luật và tâm lý e ngại mất việc; công đoàn cơ sở còn phụ thuộc vào người sử dụng lao động.
- Định hướng và giải pháp: Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành BLLĐ 2012; sửa đổi chính sách ưu đãi thuế thực chất hơn; tăng cường thanh tra liên ngành; nâng cao năng lực đại diện của công đoàn cơ sở; đẩy mạnh các chương trình hỗ trợ nhà ở, y tế và nhà trẻ tại các KCX - KCN.
Kết quả và đóng góp
| Chỉ số / Tiêu chí |
Số liệu thực chứng trong khóa luận |
Nguồn trích xuất trong văn bản |
| Lực lượng lao động cả nước (2012) |
Tổng: 52,58 triệu người (Nam: 51,3%, Nữ: 48,7%); Lực lượng trong độ tuổi: 46,95 triệu (Nữ: 46,7%) |
Báo cáo Tổng cục Thống kê năm 2012 |
| Tỷ lệ việc làm của nữ giới |
83% nữ trong độ tuổi có việc làm; 68,7% công chức là nữ; 30% chủ doanh nghiệp là nữ |
Báo cáo thực hiện CEDAW tại Việt Nam |
| Khoảng cách tiền lương theo giới |
Khoảng cách thu nhập theo giới tại VN tăng 2% (2008–2011 so với 1999–2007); lương nữ bằng 70%–80% lương nam |
Báo cáo Lương Toàn cầu ILO 2012-2013; Tổng LĐLĐ VN (2012) |
| Đáp ứng mức sống của lương tối thiểu |
Lương tối thiểu khu vực sản xuất kinh doanh chỉ đáp ứng 65% – 70% nhu cầu sống tối thiểu |
Báo cáo khảo sát đời sống lao động |
| Tranh chấp lao động tại TP.HCM |
Giai đoạn 2011–2013: 132 vụ ngừng việc (>153.000 người, 63% FDI); 5 tháng đầu năm 2013: 28 vụ (9.979 người, 50% FDI) |
Báo cáo Sở LĐTBXH & LĐLĐ TP.HCM |
| Tỷ lệ lao động nhập cư tại KCX-KCN |
Chiếm 60% tổng số lao động làm việc tại KCX - KCN TP.HCM |
Số liệu Ban Quản lý KCX - KCN TP.HCM |
| Ép ký thỏa thuận làm thêm giờ |
78,4% doanh nghiệp yêu cầu ký thỏa thuận làm thêm trước khi tuyển dụng |
Khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp TP.HCM |
| Ngộ độc thực phẩm (2006–2012) |
126 vụ, 9.400 ca mắc, 5 ca tử vong; chi phí suất ăn 8.000 đồng bị cắt xén còn 5.000 đồng |
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm TP.HCM |
| Tỷ lệ thiếu máu tại TP.HCM |
Tỷ lệ chung 19,2%; Lao động nữ: 24,5%; Lao động nam: 10,2% |
Trung tâm Sức khỏe lao động & Môi trường TP.HCM |
Đóng góp chính của đề tài:
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các quy định pháp luật điều chỉnh lao động nữ trong bối cảnh BLLĐ 2012 vừa được ban hành và có hiệu lực.
- Chỉ ra những mâu thuẫn thực tiễn giữa mục tiêu bảo vệ lao động nữ của luật pháp và phản ứng kinh tế của doanh nghiệp (đặc biệt là nghịch lý ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng giá thành sản phẩm).
- Cung cấp bức tranh thực chứng chi tiết về đời sống, điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động và thu nhập của lao động nữ tại các KCX - KCN trên địa bàn TP.HCM thời kỳ 2011–2013.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được hoàn thành vào năm 2013, ngay tại thời điểm BLLĐ 2012 vừa có hiệu lực (tháng 05/2013) và các Nghị định hướng dẫn (Nghị định 43, 44, 45, 46/2013/NĐ-CP) mới ban hành, do đó chưa có đủ độ lùi thời gian để đánh giá tác động dài hạn của các chính sách mới (như quy định tăng thai sản lên 6 tháng hay hoạt động của Hội đồng Tiền lương Quốc gia). Phạm vi số liệu thực địa tập trung chủ yếu vào khối doanh nghiệp sản xuất, dệt may, da giày tại các KCX - KCN TP.HCM, chưa bao quát sâu khối dịch vụ và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá hiệu quả thực thi dài hạn của chế độ thai sản 6 tháng đối với cơ hội tuyển dụng phụ nữ; nghiên cứu cơ chế tài chính công hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; mở rộng phạm vi khảo sát sang các ngành nghề mới và các vùng kinh tế trọng điểm khác.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Lao động, Quản trị Nhân lực, Xã hội học; cán bộ công đoàn các cấp; nhà quản trị nhân sự tại các doanh nghiệp có đông lao động nữ.
- Nội dung có giá trị cao: Phần phân tích thực trạng áp dụng pháp luật tại Chương 2 chứa đựng nhiều dữ liệu thực tế về tranh chấp lao động, an toàn thực phẩm suất ăn công nghiệp, vi phạm thời giờ nghỉ ngơi và bất cập trong cơ chế tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ.
Câu hỏi thường gặp
1. BLLĐ 2012 có những điểm mới cốt lõi nào liên quan trực tiếp đến lao động nữ so với BLLĐ 1994?
BLLĐ 2012 tăng thời gian nghỉ thai sản từ 04 tháng lên 06 tháng (Điều 157); bổ sung quyền cho lao động nữ mang thai được lựa chọn tạm hoãn hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi có chứng nhận y tế (Điều 156); quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bị quấy rối tình dục (Điểm c Khoản 1 Điều 37); thành lập Hội đồng Tiền lương Quốc gia để tư vấn chính sách tiền lương (Chương VI).
2. Khoảng cách tiền lương theo giới tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào?
Theo Báo cáo Lương Toàn cầu 2012-2013 của ILO, khoảng cách thu nhập theo giới tại Việt Nam tăng 2% trong giai đoạn 2008–2011 so với giai đoạn 1999–2007. Khảo sát năm 2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng chỉ ra rằng tiền lương của lao động nữ trong các doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 70%–80% so với đồng nghiệp nam.
3. Vì sao chính sách giảm thuế cho doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ lại bị đánh giá là chưa hiệu quả trên thực tế?
Theo quy định tại Luật Thuế TNDN 2008 và Thông tư 123/2012/TT-BTC, khoản chi thêm cho lao động nữ được hạch toán vào chi phí hoạt động kinh doanh hợp lý để trừ khi tính thuế. Tuy nhiên, việc đưa khoản này vào chi phí sản xuất khiến giá thành sản phẩm tăng lên, làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, khiến doanh nghiệp e ngại tuyển dụng lao động nữ.
4. Dữ liệu y tế và an toàn lao động đối với lao động nữ tại TP.HCM trong khóa luận phản ánh những con số nào?
Khóa luận ghi nhận tỷ lệ thiếu máu ở lao động nữ TP.HCM là 24,5% (nam là 10,2%); giai đoạn 2006–2012 xảy ra 126 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 9.400 ca mắc (suất ăn 8.000 đồng bị cắt xén qua hoa hồng chỉ còn 5.000 đồng); chi phí khám sức khỏe định kỳ tại nhiều nơi chỉ khoảng 30.000 đồng/người và mang tính đối phó.
5. Tình hình đình công, ngừng việc tập thể tại TP.HCM giai đoạn 2011–2013 diễn ra ra sao?
Từ năm 2011 đến đầu năm 2013, toàn thành phố xảy ra 132 vụ ngừng việc tập thể với hơn 153.000 lao động tham gia (63% thuộc doanh nghiệp FDI, tập trung ở ngành dệt may, da giày). Riêng 5 tháng đầu năm 2013 xảy ra 28 vụ tranh chấp lao động dẫn đến ngừng việc với 9.979 người tham gia.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thái Thị Thanh Thúy đã phản ánh toàn diện hệ thống pháp luật lao động Việt Nam đối với lao động nữ tại thời điểm chuyển giao sang BLLĐ 2012. Thông qua các dữ liệu thực chứng tại TP.HCM, công trình làm rõ khoảng cách giữa quy định pháp lý tiến bộ và thực trạng vi phạm quyền lợi về tiền lương, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp. Nghiên cứu cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật lao động và an sinh xã hội cho phụ nữ.