Chương 1 là phầ n mở đầ u giới thiê ̣u về vấ n đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đố i tươ ̣ng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và thời gian thực hiê ̣n nghiên cứu. ❖ Chương 2 là tóm lươ ̣c lý thuyế t về ý đinh ̣ di cư người lao đô ̣ng và ý đinh ̣ ho ̣ quay về quê nhà. Các nghiên cứu liên quan bao gồ m các khái niê ̣m di dân, các loa ̣i hình di dân. Tổ ng kế t các yế u tố tác đô ̣ng đế n ý đinh ̣ di cư và ý đinh ̣ quay về quê nhà của lao đô ̣ng nhâ ̣p cư vào TPHCM và mô hình nghiên cứu đề xuấ t áp du ̣ng cho đề tài.
4 ❖ Chương 3 là tổ ng quan dân số di cư trong nước. Thố ng kê mô tả các luồ ng di cư vào TPHCM. Đă ̣c trưng di cư trong nước bao gồ m đô ̣ tuổ i, giới tin ́ h, trin ̀ h đô ̣ ho ̣c vấ n và tình tra ̣ng gia đình của người di cư và phương pháp nghiên cứu. ❖ Chương 4 Kế t quả nghiên cứu.
❖ Chương 5 là kế t luâ ̣n và gơ ̣i ý chính sách. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Nô ̣i dung phầ n này sẽ giới thiê ̣u mô ̣t số các lý thuyế t di dân và các nghiên cứu liên quan. Ngoài ra, chương này cũng giới thiê ̣u các khái niê ̣m di dân, các loa ̣i hình di dân. Lý thuyế t về di dân, các yế u tố tác đô ̣ng di dân, các nghiên cứu liên quan đến di dân lao đô ̣ng.
Phầ n sau cùng của chương là tổ ng kế t các yế u tố tác đô ̣ng đế n di cư và mô hình nghiên cứu đề xuấ t áp du ̣ng cho đề tài.1 Các khái niêm ̣ di cư 2.1 Đinh ̣ nghiã di dân Theo Tổ ng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), di dân là sự di chuyể n của người dân theo lañ h thổ với những giới ha ̣n về thời gian và không gian nhấ t đinh, ̣ kèm theo sự thay đổ i nơi cư trú. Hiể u về di dân theo cách tiế p câ ̣n trên đây dựa vào những đă ̣c điể m chủ yế u sau: Thứ nhấ t, con người di chuyể n khỏi điạ điể m nào đó đế n mô ̣t nơi nào đó, với mô ̣t khoảng cách nhấ t đinh. ̣ Nơi đi (Nơi xuấ t cư) và nơi đế n (Nơi nhâ ̣p cư) phải đươ ̣c xác đinh, ̣ có thể là vùng lãnh thổ hoă ̣c mô ̣t đơn vi ̣ hành chin ́ h. Khoảng cách giữa hai điể m là đô ̣ dài di cư.
Hay là, con người di cư bao giờ cũng với những mu ̣c đích nhấ t đinh, ̣ ho ̣ đế n mô ̣t nơi nào đó và “ở la ̣i” đó trong mô ̣t thời gian nhấ t đinh. ̣ Thứ hai, nơi đi (xuấ t phát) là nơi ở thường xuyên, đươ ̣c qui đinh ̣ theo hình thức đăng ký hô ̣ khẩ u hoă ̣c đăng ký nhân sự xác đinh ̣ của quản lý cấ p hành chin ́ h có thẩ m quyề n và nơi đế n là nơi ở mới. Tiń h chấ t cư trú là điề u kiê ̣n cầ n để xác đinh ̣ di dân. Thứ ba, khoảng thời gian ở la ̣i nơi mới trong bao lâu là đă ̣c điể m quan tro ̣ng xác định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không.
Tùy mục đić h, thời gian "ở lại" có thể là một số năm, một số tháng. Ngoài ra, theo quan điể m Tổ ng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), còn có mô ̣t số khái niệm về di dân khác như sau: ✓ Nơi đi: Còn gọi là nơi xuất cư, là địa điểm cư trú trước khi một người rời đi nơi khác sinh sống. 6 ✓ Nơi đến: là điểm kết thúc quá trình di chuyển, là địa điểm mà một người dừng lại để sinh sống. Nơi và địa điểm ở đây là ám chỉ một lãnh thổ, một đơn vị hành chính nhất định.
- Người xuất cư hay còn gọi là người di cư đi là người rời nơi đang sinh sống để đi nơi khác. - Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để sinh sống. - Luồng (dòng) di dân là tập hợp người đi ra khỏi vùng đang sinh sống và đến cùng một vùng mới để cư trú theo những hướng nhất định vào những khoảng thời gian xác định. - Chênh lệch giữa số người đến và số người đi trong cùng một lãnh thổ, đơn vị hành chính trong cùng một khoảng thời gian nhất định được gọi là di dân thuần túy.2 Đặc trưng chủ yếu của di dân Theo Tổ ng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), mỗi một hiện tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, dòng.) di dân đều chứa đựng những nguyên nhân, những động cơ thúc đẩy di cư.
Bản chất xã hội và bản chất sinh học của con người trong di dân hòa quyện, tạo nên các đặc trưng mang tiń h quy luật. Sau đây là một số đặc trưng chủ yếu: Một là, con người có thuộc tiń h là luôn vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất và tinh thần. Đặc trưng này cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đić h di dân. Nơi người ta dự định di cư đến, nhìn chung, phải có điều kiện sống tốt hơn về phương diện này hay phương diện khác.
Hai là, di dân liên quan chặt chẽ với độ tuổi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người trong khoảng tuổi từ 15 đến 30 chiếm đa số trong các dòng di dân. Họ có cơ hội và triển vọng lớn hơn so với cac độ tuổi còn lại trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm. Ba là, trong lịch sử trước đây, nam giới có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ.
Đây có thể phần nào đó được giải thić h do bản năng và sự phân công lao động theo giới tính. Song trong điều kiện xã hội hiện nay, do cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao, xu hướng nữ hóa các dòng di dân đã xuất hiện. Ở một số vùng, với một số độ tuổi, nữ giới có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam. 7 Bốn là, trước thời kỳ “mở cửa” người nào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di cư lớn hơn.
Họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn về việc làm với người sở tại, dễ dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài tại nơi mới. Nhưng hiện nay, ngoài những người có trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cao, còn có cả luồng di cư của những người có trình độ học vấn thấp đến tìm những việc mà người có trình độ học vấn cao không muốn làm hoặc không có thời gian làm, đặc biệt là di cư nông thôn - đô thị. Năm là, người nào ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hóa truyền thống, hoàn cảnh gia đình sẽ dễ dàng thić h nghi hơn với điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại.3 Phân loại các hin ̀ h thức di dân Cũng theo tài liê ̣u Tổ ng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), có nhiều cách phân loại di dân theo các giác độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đić h phân tích. Tuy nhiên cần hiểu rằng cách phân chia nào cũng chỉ là tương đối và có thể đan xen nhau trong các loại di dân.
Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: ▪ Theo độ dài thời gian cư trú Di dân lâu dài, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đich sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình. Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống. Di dân tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại là tương đối chắc chắn. Kiểu di dân này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn.
Di dân chuyển tiếp là hình thức di dân mà không thay đổi nơi ở, do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, chẳng hạn như các công ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất, những người đi buôn bán từ các tỉnh lân cận đến các đô thị. ▪ Theo khoảng cách di dân 8 Di dân đươ ̣c phân biê ̣t xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến. Di dân giữa các quốc gia được gọi là hình thức di dân quốc tế, giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong một quốc gia gọi là di dân nội địa. Di dân nội địa luôn là một nội dung được ưu tiên nghiên cứu đối với mỗi quốc gia nhằm phục vụ việc hoạch định chiń h sách phát triển kinh tế-xã hội.
Việt Nam, do tính lịch sử của sự phân chia địa giới trong quá trình dựng nước và giữ nước, có các hình thức di dân: giữa ba miền Bắc, Trung, Nam, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính. ▪ Theo tính pháp lý Di dân đươ ̣c phân biê ̣t hợp pháp hay bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc. Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chin ́ h quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác. Di dân phù hợp với luật pháp của một quốc gia được gọi là di dân hợp pháp.
Hình thức di dân này đôi khi mang tính chất chiń h trị, "tỵ nạn" hay "cư trú chin ́ h trị". Sau các cuộc chiến tranh có thể có hiện tượng "di tản", "vượt biên trái phép" từ các nước không ổn định về chính trị hoặc nghèo về kinh tế đến các nước ổn định hơn và kinh tế phát triển hơn. Hình thức di dân này được gọi là di dân bất hợp pháp. Hình thức di dân có tổ chức, trong đó nhà nước và chính quyền, các cấp có thẩm quyền, hoặc cơ quan chuyên trách về di dân, đóng vai trò quyết định và chủ động theo kế hoạch thống nhất.
Đó là việc đề ra và thực thi các chính sách điều động dân cư, đi xây dựng các khu kinh tế mới, giãn dân.