CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CẢM XÚC TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Lịch sử nghiên cứu về cảm xúc trong công việc của người lao động Các nhà tâm lí học nghiên cứu cảm xúc dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phần tổng hợp các nội dung nghiên cứu, chúng tôi sẽ tổng hợp theo hai hướng: (1) những nghiên cứu liên quan đến cảm xúc con người và (2) những nghiên cứu liên quan đến cảm xúc của NLĐ. Ở mỗi nội dung, chúng tôi phân chia thành hai đề mục: (1) những công trình lí luận và (2) những công trình thực trạng, mối quan hệ, các yếu tố ảnh hưởng.
Nghiên cứu liên quan đến cảm xúc con người * Nghiên cứu lí luận về cảm xúc con người Các lí thuyết về cảm xúc con người theo 03 khuynh hướng: sinh lý, thần kinh và nhận thức. Lí thuyết sinh lí cho rằng phản ứng cơ thể chịu trách nhiệm về cảm xúc. Các thuyết thần kinh đề xuất rằng hoạt động trong não dẫn đến phản ứng cảm xúc. Cuối cùng, các lí thuyết nhận thức cho rằng những suy nghĩ và hoạt động tâm thần khác đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành cảm xúc.
Tiêu biểu cho nhóm lý thuyết sinh lý là thuyết tiến hóa về cảm xúc của Charles Darwin, khi ông cho ra đời tác phẩm “Sự biểu hiện xúc cảm ở người và động vật” (1872). Darwin cho rằng xúc cảm là sản phẩm của sự tiến hóa. Cảm xúc của chúng ta tồn tại vì nó thực hiện chức năng thích nghi, là khả năng thích ứng và nó cho phép con người và động vật có thể sống sót và sinh sản. Cảm xúc cũng phát triển thông qua chọn lọc tự nhiên và có tính phổ quát xuyên văn hóa.
Lí thuyết cảm xúc sinh lí còn được nghiên cứu bởi nhà tâm lí học William James và nhà sinh lí Carl Lange (còn gọi là Lý thuyết James - Lange). Lí thuyết này cho rằng cảm xúc diễn ra là kết quả của sự phản ứng về mặt sinh lí của cơ thể đối với sự tác động của bên ngoài được con người nhận thức. Theo lý thuyết này, khi nhận được một kích thích từ bên ngoài dẫn đến một phản ứng sinh lí, phản ứng cảm xúc của con người tùy thuộc vào sự lí giải phản ứng đó, chẳng hạn “bạn không run rẩy vì sợ mà bạn cảm thấy sợ hãi vì bạn đang run rẩy”. 7 Walter Canon không đồng ý với lí thuyết cảm xúc James - Lange.
Ông cho rằng, con người có thể trải nghiệm các phản ứng sinh lí liên quan đến cảm xúc mà không thật sự cảm thấy những cảm xúc đó, chẳng hạn như tim của bạn có thể đập nhanh là do bạn tập thể dục chứ không phải do sợ hãi. Công trình nghiên cứu này của Cannon sau đó được phát triển bởi Philip Bard. Lí thuyết của Canon - Bard cho rằng, những trải nghiệm xúc cảm và những thay đổi sinh lí của cơ thể xảy ra đồng thời nhưng độc lập và cái này không phải là hệ quả của cái kia. Lí thuyết hai yếu tố về cảm xúc của Schachter – Singer là điển hình của lí thuyết cảm xúc nhận thức.
Lí thuyết này khẳng định kích thích vật lí diễn ra trước, sau đó người trải nghiệm xác định lí do cho kích thích này và dán nhãn nhận thức dẫn đến cảm xúc. Kế thừa các lí thuyết trước đó, Schachter - Singer cho rằng con người suy luận về cảm xúc dựa trên các phản ứng về sinh lí. Điểm mới là đề cập đến tình huống và chúng ta nhận thức để gắn nhãn cảm xúc đó. Như vậy, một phản ứng sinh lí có thể tương ứng với nhiều cảm xúc khác nhau.
Ví dụ, nếu tim chúng ta đập nhanh, tay đổ mồ hôi khi tham gia một sự kiện quan trọng thì đó là cảm xúc như lo âu, nhưng nếu vẫn là phản ứng sinh lý đó khi bạn đối diện với người quan trọng đối với bạn thì đó có thể là cảm xúc hồi hộp, kích thích. Theo hướng nhận thức về cảm xúc có một số nhà nghiên cứu như H. Các kết quả nghiên cứu của họ chứng minh nguồn gốc cảm xúc của con người là từ nhận thức. Richard Lazarus là người tiên phong trong lĩnh vực này.
Theo thuyết thẩm định cảm xúc của M. Arnold và Lazarus, suy nghĩ diễn ra trước cảm xúc, cường độ và trường độ của cảm xúc phụ thuộc vào quá trình nhận thức. Theo đó, trình tự được diễn ra theo chuỗi: đầu tiên là kích thích, tiếp theo là suy nghĩ và sau đó dẫn đến trải nghiệm đồng thời cùng lúc là phản ứng vật lí và cảm xúc. Chẳng hạn, khi đối diện với một con thú hung dữ, bạn sẽ suy nghĩ rằng mình đang gặp nguy hiểm.
Trải nghiệm sau đó là cảm xúc sợ hãi và các phản ứng vật lí liên quan đến quyết định chiến đấu hay bỏ chạy của bạn. Một số nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa những thay đổi biểu hiện trên khuôn mặt và sự trải nghiệm các cảm xúc khác nhau. Charles Darwin và William James đều cho rằng đôi khi các phản ứng vật lí có ảnh hưởng trực tiếp đến cảm xúc 8 hơn đơn giản chỉ là kết quả của một cảm xúc. Ví dụ, những người làm ở vị trí thường xuyên tiếp xúc với khách hàng, đôi khi nụ cười trên mặt họ không đơn giản chỉ là họ vui, mà có thể họ đang buồn nhưng vì công việc nên phải cười.
Dựa trên các lí thuyết nền tảng, các nghiên cứu lí luận về cảm xúc của con người là những nghiên cứu tiên phong nhằm góp phần củng cố lí thuyết nền tảng và làm sáng tỏ cơ sở lí luận cho những nghiên cứu đi sau. Một số nghiên cứu lí luận được biết đến của các tác giả: Arnold, M. đã xuất bản quyển sách Cảm xúc và nhân cách con người – Từ góc nhìn Tâm lí học (Emotion and Personality - Psychological Aspects). Tác giả cho rằng, cảm xúc thực chất là một chuỗi phản ứng sinh lí không thay đổi về thể chất, mà là một đánh giá trực tiếp và cần thiết về việc đối tượng hoặc tình huống ảnh hưởng đến chúng ta theo cách này hay cách khác.
Ở góc độ tâm lí, Arnold xem xét cảm xúc dựa trên nền tảng của những phản ứng sinh lí của cơ thể khi có sự tác động của các đối tượng trong môi trường sống. Đây là một quan điểm gắn liền cảm xúc với sinh lí của con người. R đã có công trình nghiên cứu lí luận “A general psychoevolutionary theory of emotion” (tạm dịch Một cuộc cách mạng về thuyết cảm xúc). Ông đã tổng hợp nhiều lí thuyết và cảm xúc nền tảng của Charles Darwin, James - Lange, Schachter – Singer.
Bên cạnh những phân tích, ông đã đưa ra những luận điểm phản đối sự không phù hợp với thực tế. Ông đã đưa ra mô hình cảm xúc. Mô hình bánh xe cảm xúc Plutchik Theo Plutchik, con người có 8 cảm xúc cơ bản: Vui mừng, Tin tưởng, Sợ hãi, Ngạc nhiên, Buồn bã, Mong đợi, Tức giận, Ghê tởm và sắp xếp thành một vòng tròn. Mỗi cảm xúc cơ bản đều có một cực đối lập.
Các cảm xúc cơ bản có thể kết hợp với nhau để tạo thành cảm xúc khác, giống như các loại màu sắc khác nhau có thể được pha trộn để tại ra các sắc màu khác. Theo học thuyết này, các cảm xúc cơ bản hoạt động giống như các khối xếp hình, những cảm xúc phức tạp hơn, đôi khi lẫn lộn, là sự pha trộn của nhiều loại cảm xúc cơ bản; những sắc màu khác nhau của bánh xe thể hiện cường độ của cảm xúc, màu càng đậm thì cường độ càng mạnh. Ví dụ, sự mong đợi và niềm vui kết hợp thành sự lạc quan; sự tức giận ở mức độ ít nhất là sự khó chịu, nhưng nếu cường độ tăng đến mức cao nhất sẽ trở thành cơn thịnh nộ. Nghiên cứu của Pluchik mang lại ý tưởng mới cho các nghiên cứu về cảm xúc và sự kiểm soát, quản lí cảm xúc.
Nâng cao hiểu biết về cảm xúc không chỉ có nghĩa là có thể gọi tên các cảm xúc, mà còn hiểu được các cảm xúc khác nhau có liên quan như thế nào với nhau và xu hướng thay đổi theo thời gian. Phải xem xét các cảm xúc trong mối liên hệ với nhau. đã có công trình nghiên cứu lí luận đề cập về việc Hướng tới một lí thuyết tâm lí chung về cảm xúc (Toward a general psychobiological theory of emotions). Khi có quá nhiều lí thuyết về cảm xúc, người nghiên cứu khó mà 10 có thể tìm ra sự thống nhất khi muốn nghiên cứu so sánh hoặc làm sáng tỏ các nghiên cứu đi trước.
Chính vì vậy mà tác giả đã nghiên cứu nhằm hướng tới thống nhất học thuyết chung về cảm xúc. Theo Panksepp, cảm xúc của con người thể hiện những xung động bên trong của chủ thể đối với đối tượng khác. Ông cho rằng, con người có 2 loại cảm xúc: tích cực và tiêu cực. Cảm xúc tích cực bao gồm các loại cảm xúc thành phần: Tìm kiếm, Ham muốn, Quan tâm và Vui chơi.
Các cảm xúc tiêu cực là: Sợ hãi, Thịnh nộ/Giận dữ, Sầu não/Hoảng loạn. Ở mỗi cá nhân, sự ổn định khác biệt của trạng thái tinh thần trong các khía cạnh nhận thức, cảm xúc và động lực (đặc biệt là cảm xúc) dẫn đến xu hướng hành động ổn định. Chúng tôi nhận thấy quan điểm của tác giả Panksepp chưa phù hợp ở hai nội dung. Thứ nhất, cảm xúc của con người không chỉ thể hiện những xung động bên trong của chủ thể đối với đối tượng khác mà còn là đối với bản thân hoặc những vấn đề có liên quan đến nội tại của chủ thể.
Thứ hai, cách gọi tên cảm xúc tích cực/ tiêu cực là chưa phù hợp với chủ thể là con người, bởi lẽ, có những cảm xúc “tiêu cực”, nhưng rất tích cực nếu chủ thể biết quản lí chúng ở mức phù hợp. Chẳng hạn, một người lo lắng có thể sử dụng trạng thái lo lắng một cách có ích (chuẩn bị tốt hơn cho công việc), hoặc có hại (luống cuống, làm việc gì cũng không nên). Rút ra từ quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy nên phân loại cảm xúc dựa trên cảm nhận của chủ thể. Những cảm xúc mang cho chủ thể sự dễ chịu, thoải mái ta gọi tên là nhóm cảm xúc mang màu sắc Dương tính, nhóm ngược lại là Âm tính.