chương 1 này trình bày tổng quan về các nội dung nghiên cứu. Những nội dung này sẽ giúp độc giả có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, từ đó tạo cơ sở cho việc nghiên cứu sâu hơn về các cơ sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Với vai trò là nhà quản lý, điều hành, một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phải giải đáp được câu hỏi: người lao động làm việc hay mục đích làm việc của họ là gì ? Yếu tố nào sẽ khích lệ nhân viên làm việc nhiệt tình ?. Việc tìm ra câu trả lời chính xác cho những câu hỏi này rất quan trọng vì nó được ví như là “chìa khóa” để các nhà quản trị mở ra “cánh cửa” khơi dậy động lực làm việc của người lao động là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức.
LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC 2. Khái niệm động lực làm việc Trên thế giới, vấn đề tạo động lực làm việc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được xuất bản thành các giáo trình, sách hay các nghiên cứu lý luận về nhân lực, quản trị nhân lực đã được đăng trên các bài báo, tạp chí cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực. Sau đây là các học thuyết kinh điển về tạo động lực làm việc. Theo Campbell và Pritchard (1976) thì động lực làm việc bao gồm mối quan hệ đa dạng phụ thuộc và không phụ thuộc vào nhau, giải thích phương hướng, kỹ năng, sự hiểu biết về những nhiệm vụ và cả hoạt động mà các cá nhân phải thực hiện trong môi trường làm việc.
Động lực làm việc cũng đề cập đến trạng thái tâm lý cơ bản đưa đến cách ứng xử, hành vi của các cá nhân. Nói chung động lực làm việc chính là một nhu cầu, mong muốn hay khao khát mà nó diễn ra bên trong mỗi cá nhân khiến cho họ biểu hiện ra thành hành vi. Theo Stee & Porter (1983) động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của con người được thể hiện ở những nỗ lực nhằm đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể nào đó. Nói cách khác, động lực làm việc chính là sự thôi thúc, sự kiên định và bền bỉ trong quá trình làm việc của con người nhằm thực hiện được mục tiêu đã đề ra, là tất cả những lý do khiến cho con người hành động.
Bản chất của động lực làm việc được bộc lộ thông qua hành động, ý thức của người lao động trong công việc. Điều này có nghĩa là động lực mang tính cá nhân, xuất phát từ bên trong. Với vị trí cũng như công việc không giống nhau thì mỗi cá nhân cũng có động lực khác nhau để làm việc tích cực hơn. Động lực làm việc của mỗi cá nhân chịu tác động bởi nhiều -9- yếu tố khác nhau nên có thể thay đổi theo những yếu tố chủ quan và khách quan trong công việc.
Để có động lực làm việc, trước hết con người phải có nhu cầu và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó. Là người lãnh đạo trong các tổ chức, muốn cho tổ chức vận hành và phát triển đúng theo quỹ đạo mà mình mong muốn thì phải quan tâm tới nhu cầu và mong muốn của người lao động, đồng thời động viên họ, giúp họ thực hiện được những nhu cầu và mong muốn đó. Thuyết cấp bậc nhu cầu Maslow (1943) Theo Maslow hành vi của con người có nguồn gốc từ mong muốn thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Nhu cầu của con người được phân thành 5 bậc từ thấp (cấp thiết nhất) đến cao (ít cấp thiết), bao gồm: nhu cầu sinh học - nhu cầu an toàn - nhu cầu xã hội - nhu cầu được tôn trọng - nhu cầu tự thể hiện bản thân.
Lý thuyết này đã chỉ ra rằng: nhu cầu chính là cơ sở hình thành nên động cơ thôi thúc con người hành động. Sự thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân sẽ đi theo thứ bậc như trên và cho dù không có một nhu cầu nào có thể thỏa mãn hoàn toàn nhưng khi một nhu cầu đã được thỏa mãn về cơ bản thì không còn tạo ra động lực cho nhu cầu đó nữa, người ta sẽ cố gắng tìm cách để thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo. Vì thế theo Maslow, để tạo động lực cho nhân viên, người quản lý cần phải hiểu nhân viên đó đang có nhu cầu ở đâu trong hệ thống thứ bậc này và hướng cho họ vào sự thỏa mãn các nhu cầu ở thứ bậc đó. Tự thể hiện Tôn trọng Xã hội An toàn Sinh lý Hình 2-1 Tháp cấp bậc nhu cầu Maslow (1943) -10- Nhu cầu vật chất (sinh lý): nhu cầu sinh lý là một khái niệm nguồn để giải thích và nuôi dưỡng nền tảng của động lực khác.
Khái niệm này là yêu cầu vật lý chính cho sự sống còn của con người. Điều này có nghĩa là nhu cầu sinh lý là nhu cầu phổ quát của con người. Nhu cầu sinh lý được xem xét từ động lực bên trong của con người theo hệ thống nhu cầu của Maslow. Nhu cầu sinh lý bao gồm: sức khỏe, thực phẩm và nước, ngủ, quần áo, nơi trú ẩn.
Nhu cầu an toàn: nhu cầu an toàn và an ninh là việc giữ cho chúng ta an toàn, khỏi bị tổn hại. Chúng bao gồm nơi trú ẩn, an ninh công việc, sức khỏe và môi trường an toàn. Nếu một người không cảm thấy an toàn trong môi trường của họ, họ sẽ cố gắng tìm sự an toàn trước khi họ cố gắng đáp ứng bất kỳ mức sống nào cao hơn, nhưng nhu cầu an toàn không quan trọng bằng nhu cầu sinh lý cơ bản.Nhu cầu an toàn và bảo mật bao gồm: an ninh cá nhân, an ninh cảm xúc, an ninh tài chính, sức khỏe và hạnh phúc, nhu cầu an toàn chống lại tai nạn / bệnh tật và tác động bất lợi của chúng. Nhu cầu xã hội: Theo Maslow, con người sở hữu một nhu cầu tình cảm về cảm giác muốn được thuộc về và chấp nhận trong một nhóm xã hội nào đó dù lớn hay nhỏ.
Ví dụ, những nhóm lớn bao gồm các câu lạc bộ, đồng nghiệp, tôn giáo, tổ chức chuyên nghiệp đội thể thao, băng đảng và cộng đồng trực tuyến. Một số ví dụ về các kết nối xã hội nhỏ bao gồm các thành viên gia đình, đối tác thân mật, cố vấn, đồng nghiệp và tâm sự. Nhu cầu được tôn trọng: Maslow cho rằng hầu hết mọi người đều có nhu cầu tự tôn và lòng tự trọng ổn định, sự thành đạt và sự công nhận của mọi người. Nhu cầu tự hoàn thiện: Cấp độ nhu cầu này đề cập đến việc nhận ra năng lực đầy đủ của một người.
Maslow cho rằng đó là mong ước có thể làm được tất cả những gì mà người đó có khả năng, để trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Thuyết hai yếu tố của Herzberg (1959) Thuyết hai nhân tố của Herzberg cho rằng có hai nhóm yếu tố ảnh hưởng đến động lực của nhân viên tại nơi làm việc là các nhân tố duy trì và các nhân tố động viên. Nhân tố duy trì là các nhân tố gây ra sự không hài lòng ở nơi làm việc. Chúng là các yếu tố bên ngoài hoặc độc lập với công việc và có liên quan với những thứ -11- như tiền lương, tính ổn định của công việc (khả năng nhân viên giữ được việc làm, không bị sa thải), chính sách của doanh nghiệp, điều kiện làm việc, năng lực của lãnh đạo và mối quan hệ giữa người giám sát, cấp dưới và đồng nghiệp.
Theo Herzberg, những nhân tố này không thúc đẩy nhân viên. Tuy nhiên, khi chúng thiếu sót hoặc không đầy đủ, các nhân tố duy trì có thể khiến nhân viên rất không hài lòng. Nhóm thứ hai là nhân tố động viên. Chúng gắn liền với động lực của nhân viên và phát sinh từ các điều kiện nội tại của công việc, phụ thuộc vào chính bản thân công việc.
Các yếu tố của sự động viên bao gồm trách nhiệm, sự hài lòng trong công việc, sự công nhận, thành tích, cơ hội phát triển và thăng tiến. Nhân viên Nhân viên không Nhân viên không bất mãn và còn bất mãn còn bất mãn và có không có nhưng không có động lực động lực động lực Hình 2-2 Thuyết hai nhân tố của Frederick Heberg 2. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vrom (1964) Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom là một lý thuyết rất quan trọng trong lý thuyết tạo động cơ làm việc trong tổ chức, bổ sung lý thuyết về tháp nhu cầu của A. Khác với Maslow, Victor Vrom không tập trung nhiều vào nghiên cứu nhu cầu mà chủ yếu tập trung vào nghiên cứu kết quả.
Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom được xây dựng theo công thức: Sự động viên = Sức hấp dẫn của công việc x Niềm hy vọng. Như vậy, về căn bản học thuyết này cho rằng, đối với cá nhân thì cường độ và sự quyết tâm của hành động sẽ phụ thuộc vào mức độ kỳ vọng và tính hấp dẫn của kết quả đó. Nỗ lực Hành Phần Mục cá nhân động thưởng tiêu Kỳ vọng Tính chất công cụ Hóa trị Hình 2-3 Mô hình kỳ vọng của Victor Vrom (1964) -12- 2. Thuyết công bằng của Adam (1963) Thuyết này đề cập tới vấn đề nhận thức của người lao động về mức độ được đối xử công bằng và đúng đắn trong tổ chức.
Adam đưa ra giả thuyết là mọi người đều muốn được đối xử công bằng. Các cá nhân trong tổ chức có xu hướng so sánh sự đóng góp của họ và các quyền lợi họ nhận được với sự đóng góp và các quyền lợi của những người khác. Nhân viên sẽ cảm nhận được đối xử công bằng khi cảm thấy tỷ lệ quyền lợi/đóng góp của mình ngang bằng với tỷ lệ đó ở những người khác. Do đó, để tạo động lực, người quản lý cần tạo ra và duy trì sự cân bằng giữa đóng góp của cá nhân và các quyền lợi mà cá nhân đó được hưởng.
Tư tưởng đó được trình bày như sau: Quyền lợi cá nhân Quyền lợi của những người khác Công sức đóng góp của cá nhân Công sức đóng góp của những người khác 2. Thuyết ba nhu cầu của McClelland Thuyết này đã đề ra ba nhu cầu chủ yếu tại nơi làm việc đó là: (1). Nhu cầu về thành tích: một số người có động cơ thúc đẩy để thành công nhưng họ lại đang phấn đấu để có được thành tích cá nhân chứ không phải là phần thưởng của sự thành công.