CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG TỔ CHỨC 1. Động lực và tạo động lực cho người lao động 1. Khái niệm động lực lao động và tạo động lực lao động Tạo động lực lao động xưa nay luôn là vấn đề mà các nhà quản lý quan tâm. Trong quá trình xây dựng và phát triển một tổ chức thì việc giữ chân người lao động giỏi là vấn đề cho các nhà quản lý.
Họ luôn phải tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để những người lao động giỏi cống hiến và gắn bó lâu dài với tổ chức”. Có rất nhiều quan điểm về động lực. “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình”. Động lực được xem như yếu tố giúp cho tổ chức định hướng, thúc đẩy hành vi của cá nhân một cách có chủ đích để hoàn thiện một mục tiêu nào đó.
Động lực ở mỗi người được cấu thành khác nhau. Động lực có thể xuất phát từ cảm xúc, bản năng hay nói cách khác là xuất phát bên trong con người. Theo quan điểm của quản lý nguồn nhân lực: “Tạo động lực cho người lao động là việc dùng những biện pháp nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình, hăng say và có hiệu quả hơn trong công việc”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thuý Hương (2019): “Tạo động lực lao động là việc sử dụng các công cụ tác động nhân tố bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao”.
Động lực chủ yếu xuất phát từ bên trong người lao động. Vì vậy để làm tạo được động lực thì các nhà quản lý cần phải hiểu rất rõ về những cá nhân thuộc mình quản lý. Từ đó, có thể hiểu: “Tạo động lực cho người lao động là quá trình mà nhà quản lý tìm ra yếu tố có tính thúc đẩy người lao động tại những thời điểm khác nhau”. Vai trò của tạo động lực đối với tổ chức.
Động lực lao động có tác động tích cực và tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức. Các công cụ tạo động lực góp phần làm cho các người lao động hăng say làm việc, cống hiến hết mình vì công việc, luôn yêu công việc, yêu tổ chức. Và khi các công cụ này được sử dụng kịp thời thì sẽ làm cho các người lao động nâng cao chất lượng làm việc, vui vẻ chan hòa với đồng nghiệp và lãnh đạo. Và khi người lao động có tính tích cực thì hành động này sẽ lan tỏa tính tích cực đến những người xung quanh giúp cho bầu không khí làm việc trong tổ chức thoải mái, vui vẻ và tạo dựng văn hóa chuyên nghiệp trong tổ chức.
Thông qua các công cụ tạo động lực, người lãnh đạo tác động vào nhu cầu của bản thân các người lao động và đáp ứng cho họ các yêu cầu đó. Ngược lại, một khi người lao động mà thiếu đi động lực lao động thì bản thân họ không cố gắng để hoàn thành các công việc được giao. Hơn nữa quá trình làm việc tâm lý người lao động luôn mệt mỏi, chán với công việc, có những suy nghĩ không tích cực. Chính vì thế ảnh hưởng đến năng lực làm việc cũng như hiệu quả công việc.
Khi họ rơi vào bế tắc có thể họ sẽ nghỉ việc. Như vậy hoạt động của tổ chức sẽ bị ảnh hưởng. Một số học thuyết về tạo động lực lao động Trên thế giới có rất nhiều lý thuyết về tạo động lực. Và có thể kể đến Học thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow, học thuyết 2 hiếu tố của Frederick Herzberg, học thuyết công bằng của J.Stacy Adams, thuyết ERG của Clayton, thuyết kỳ vọng, thuyết của Victo H Room….Tuy nhiên trong luận văn này tác giả đưa ra 2 học thuyết dễ vận dụng và mang tính khái quát 1.
Học thuyết tháp nhu cầu của Maslow Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ. Quan điểm của ông cho rằng mỗi con người sinh ra đều có những nhu cầu nhất định và khác nhau cho nên để thỏa mãn được tất cả các nhu cầu của con người thì nhà quản lý cần phải nghiên cứu những nhu cầu theo các cấp bậc khác nhau để giúp cho người lao động thỏa mãn được tất cả những nhu cầu mà họ mong muốn. Theo 6 đó các cấp độ này ông xây dựng theo hình tháp và càng xa chân tháp thì nhu cầu của con người càng cao. Theo đó ông chia ra nhu cầu của con người thành 5 cấp bậc.
Thứ nhất là nhu cầu sinh lý: Nhu cầu sinh lý là nhu cầu rất cơ bản của con người. Nhu cầu sinh lý bao gồm ăn, mặc, ở…Nhu cầu phát sinh khi con người cảm thấy thiếu hụt và phát sinh muốn đáp ứng cảm giác nhu cầu đó. Thứ hai nhu cầu an toàn: Khi con người đã thỏa mãn được các nhu cầu cơ bản đảm bảo sự sinh tồn thì con người muốn có nhu cầu cao hơn để bảo vệ bản thân và muốn được sống trong môi trường bình yên và chế độ chính trị ổn định. Thứ ba nhu cầu xã hội hay gọi là nhu cầu bạn bè, giao tiếp.
Ở cấp bậc này có thể hiểu nhu cầu này là nhu cầu con người tạo dựng các mối quan hệ của bản thân với những người xung quanh như bạn bè, gia đình, đồng nghiệp… Thứ tư là nhu cầu được tôn trọng. Đây là nhu cầu con người muốn mọi người trong xã hội nhìn nhận bản thân và khẳng định giá trị, vị thế của bản thân trong xã hội. Thư năm là nhu cầu tự hoàn thiện hay còn được gọi là nhu cầu được trưởng thành và phát triển. Ở mức nhu cầu này con người không ngừng nỗ lực phấn đấu để hoàn thiện bản thân và để lại giá trị nhất định cho đời.1: Tháp nhu cầu của Maslow 7 1.
Học thuyết tạo động lực của J. Stacy Adams Học thuyết của J.Stacy Adams giả định rằng giả sử các tổ chức đều đối xử công bằng với người lao động. Khi đó người lao động họ sẽ luôn so sánh họ với người khác. Những gì họ nhận được và những gì người khác nhận được khi thực hiện một công việc như nhau là cơ sở để họ so sánh.
Từ sự so sánh như vậy họ sẽ cảm nhận được mức độ công bằng. Từ đó nhân viên sẽ nhận thấy được và cảm nhận được mức độ đối xử công bằng của tổ chức. Ý tưởng đó được thể hiện như sau: Các quyền lợi cá nhân Các quyền lợi của những người khác = Đóng góp của cá nhân Đóng góp của những người khác Theo sơ đồ trên thì có thể thấy J.Adam quan tâm đến sự công bằng trong tổ chức. Có thể thấy người lao động luôn so sánh quyền lợi cá nhân của mình và người khác.
Nếu như họ cảm nhận được tổ chức đối xử công bằng thông qua phân chia quyền lợi và đóng góp thì họ sẽ thấy hài lòng với những gì tổ chức làm, còn nếu không thì sẽ gây ra tâm lý chán nản cho người lao động làm họ thiếu đi động lực làm việc. Từ hai học thuyết trên có thể thấy vấn đề động lực xuất phát từ bên trong người lao động. Khi người lao động được đối xử công bằng nghĩa là nhu cầu của họ được thỏa mãn thì họ sẽ làm việc hiệu quả. Vì vậy các nhà quản lý cần tìm hiều nhu cầu của người lao động.
Và khi tìm hiểu họ phải thỏa mãn được nhu cầu đó và luôn kích thích nhu cầu cao hơn để họ có thêm động lực hơn. Nội dung công tác tạo động lực cho người lao động Trên cơ sở tiếp cận hai lý thuyết ở trên, nội dung công tác tạo động lực được phân chia thành các nội dung như sau: 1. Xác định nhu cầu của người lao động Việc xác định nhu cầu của người lao động là công việc thường xuyên và cần thiết mà các nhà quản lý luôn phải tìm hiểu. Họ luôn phải nỗ lực để 8 thỏa mãn được những yêu cầu cơ bản nhất của người lao động.
Mỗi một nhu cầu cấp thấp được thỏa mãn sẽ phát sinh nhu cầu cao hơn. Trong một tập thể, do có sự khác nhau về giới tính, độ tuổi, tính cách, trình độ học vấn, chức vụ, trình độ chuyên môn,. Những đặc điểm khác nhau này sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu và mong muốn làm việc của họ. Sau khi làm việc từ 5-10 năm, họ mong muốn được công nhận trong công ty, mong muốn trở thành người phát ngôn của công ty và hy vọng được thăng chức lên các vị trí lãnh đạo hoặc quản lý.
Đến một lúc nào đó, tiền có thể không còn là yếu tố giữ chân nhân viên nữa. Họ muốn làm công việc họ yêu thích, đam mê và đặt cả trái tim, tâm hồn vào đó. Việc nhà quản lý hiểu được mức độ yêu cầu của nhân viên là rất quan trọng và cần thiết. Để làm được điều này, trước tiên người quản lý cần hiểu rõ nhu cầu chung của nhân viên, nhu cầu này khác nhau tùy theo độ tuổi, giới tính, thâm niên, khả năng, kinh nghiệm và tính chất công việc.
Sau đó, tìm hiểu về tính cách và thái độ của nhân viên thông qua quá trình làm việc, quan sát hoặc khảo sát của nhân viên để hiểu nhu cầu của từng cá nhân và/hoặc nhóm nhân viên để biết họ cần được động viên đến mức nào. Họ có thể sử dụng phương pháp khảo sát để biết được điều này. Các công cụ tạo động lực cho người lao động. Các biện pháp động viên nhân viên bằng cách đáp ứng nhu cầu của họ thuộc hai loại chính: kích thích thể chất và kích thích tinh thần.
Công cụ tài chính - Tạo động lực lao động thông qua tiền lương/ tiền công Tiền lương và tiền công là thước đo thu nhập của người lao động. Đây là yếu tố để người lao động duy trì cuộc sống. Là yếu tố mà người lao động thỏa mãn được nhu cầu tối thiểu nhất trong tháp nhu cầu. Tiền lương sẽ giúp cho người lao động đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình.
Nếu mức lương và mức lương đủ cao đối với họ thì động lực lớn nhất của chính là giúp nhân viên nâng cao hiệu quả công việc. Đối với các công ty, tiền lương, tiền công là chi phí hoạt động. Tuy 9 nhiên, công ty cần biết cách tận dụng tối đa chức năng tính lương để tạo động lực lớn nhất có thể cho nhân viên công ty. Đối với các công ty tiền lương là chi phí của công ty.