Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE THƯƠNG LƯỢNG TAP THE VA PHAP LUAT VE THUONG LUONG TAP THE 1. Thương lượng tập thé 1. Khái niệm thương lượng tập thể Thương lượng tập thé đã được các quốc gia trên thé giới biết đến từ lâu và là mối quan tâm đặc biệt của ILO. Theo đó, khái nệm TLTT được ILO và các quốc gia quy định.
Tuy nhiên do điều kiện kinh tế, xã hội mà mỗi quốc gia có quan điểm khác nhau và đưa ra định nghĩa khác nhau về TLTT. - Quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế: ILO đã đưa ra khái niệm TLTT như sau: “Thương lượng tập thê áp dụng cho mọi cuộc thương lượng giữa một bên là một NSDLĐ, một nhóm NSDLĐ hoặc một hay nhiều tô chức của NSDLD, với một bên là một hay nhiều t6 chức của NLD, dé: a) Quy định những điều kiện lao động và sử dụng lao động; b) Giải quyết những mối quan hệ giữa những NSDLĐ với những NLD; c) Giải quyết những mối quan hệ giữa những NSDLĐ hoặc các tổ chức của họ với một hoặc nhiều tô chức của NLD”! Theo quan điểm của ILO, TLTT phải nhằm những mục tiêu sau: a) Thương lượng tập thé phải có khả năng tiến hành cho mọi NSDLD và cho mọi NLD trong các ngành hoạt động nêu trong Công ước này; b) Thương lượng tập thê phải được mở rộng dần cho mọi nội dung nêu trong các khoản a, b và c của Điều 2, Công ước này; c) Phải khuyến khích việc phát huy những quy tắc và thủ tục mà các tổ chức của NSDLĐ và các tổ chức của NLĐ đã thỏa thuận; đ) Dù không có các quy tắc điều chỉnh việc tiễn hành thương lượng tập thể hoặc dù những quy tắc đó còn thiếu sót hay tính chất chưa phù hợp, việc thương lượng tập thé không vi thế mà bi trở ngại; e) Các cơ quan và các thủ tục giải quyết tranh chấp lao động phải được dự kiến sao cho có thé giúp xúc tiến thương lượng tập thể.” - Quan điểm của một số nước trên thé giới: Hiện nay, các nước trên thé giới đều quy định về vấn đề TLTT và thực thi có hiệu quả cơ chế TLTT. Từ định nghĩa có tính chính thức nhất về TLTT quy định trong Công ước số 154 năm 1981 của ILO và điều kiện cụ thé của mình các quốc gia trên thé giới đưa ra định nghĩa TLTT. ' Tổ chức Lao động Quốc tế (1981), Điều 2 phanI Công ước số 154 về xúc tiễn thương lượng tập thé.
? Tổ chức lao động Quốc tế (1981), khoản 2, Điều 5 phan III Công ước số 154 về xúc tiến thương lượng tập thé. Ở Singapo, “thương lượng tập thể” và “thỏa ước tập thé” là quá trình và kết thúc 8 A các cuộc thương lượng về các vấn đề QHLĐ “đề cập tới mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLD” và “có liên quan tới việc làm hay phi việc làm hay các điều khoản việc làm, việc luân chuyền việc làm hay tiếp tục việc làm của bất kỳ người nào”.” Malaysia đưa ra khái niệm: “Thương lượng tập thé là việc đàm phán nhằm đạt được một thỏa ước tập thé”.4 Ở Việt Nam, xuất phat từ nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt, đó là “Thương lượng” là trao đối bàn bạc với nhau nhằm đi đến thỏa thuận giải quyết một van đề nào đó liên quan đến quyền và lợi ích của các bên.” “Tập thé” là tập hợp những người có mối quan hệ gắn bó như cùng sinh hoạt hoặc cùng làm việc chung với nhau." Từ đó có thé hiểu, TLTT là việc ban bạc thỏa thuận giữa đại diện NLD và NSDLĐ nhằm đạt tới sự thỏa thuận về nội dung TULDTT trong doanh nghiệp. TLTT là việc tập thể NLĐ thỏa thuận, đàm phán với NSDLĐ nhăm mục đích sau đây: 1) Xây dựng QHLD hai hoa, ôn định và tiễn bộ: 2) Xác lập các điều kiện lao động mới lam căn cứ dé tiến hành ký kết thoả ước lao động tập thể; 3) Giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ.” Khái niệm TLTT ở Việt Nam trước đây quy định không rõ ràng mà được quy định lồng ghép trong các quy định của TƯLĐTT thì BLLĐ năm 2012 đã quy định cụ thé về van dé nay. Theo đó BLLĐ năm 2012 đã khái quát được bản chất của TLTT là một quá trình thỏa thuận, thé hiện sự tiễn bộ của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành và phù hợp với xu hướng chung của các nước trên thế giới.
Việt Nam cần học hỏi định nghĩa TLTT của ILO va các nước trên thế giới để có thé đưa ra một định nghĩa đầy đủ về TLTT phù hợp pháp luật Việt Nam. ILO luôn khuyến nghị rằng các quốc gia nên học hỏi kinh nghiệm pháp luật quốc tế được chuyển giao từ quốc gia này sang quốc gia khác. Một mô hình có thể vận dụng hiệu quả ở nước này song không tốt ở quốc gia khác vì điều kiện kinh tế, chính trị, cau trúc xã hội khác nhau nên cần xây dựng một cơ chế phù hợp, vận hành một cách hiệu quả và đóng góp xứng đáng cho sự phát triển hài hòa, 6n định trong mối QHLD. 3 Điều 2 Luật QHLĐ Singapo năm 1960, đã sửa đôi.
* Điều 2 Luật QHLĐ Malaysia. Š Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trung tâm từ điển học, Hà Nội, năm 2010. ° Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trung tâm từ điển học, Hà Nội, năm 2010. TLTT diễn ra ở nhiều phạm vi khác nhau và bat cứ van dé nào cần tới sự bàn bạc, thống nhất trong QHLD thì có thể tiến hành thương lượng.
Trong QHLĐ, thương lượng có thể hiểu là một quá trình thỏa thuận nhằm thống nhất giải quyết một vấn đề liên quan đến việc mua bán, sử dụng hàng hóa sức lao động và giải quyết những van dé phát sinh giữa NLD va NSDLD. Trong quá trình lao động sản xuất giữa NLD va NSDLĐ sẽ phát sinh mâu thuẫn có thé là tranh chấp cá nhân hay tranh chấp tập thé khi thương lượng các bên có thé tự thương lượng hoặc cử người đại diện, t6 chức tham gia thương lượng thì mục đích là tìm ra được tiếng nói chung cho tất cả các bên khi tham gia thương lượng. Từ quy định của ILO và các quốc gia trên thế giới cũng như quy định của pháp luật Việt Nam, có thể hiểu một cách khái quát về TLTT như sau: TLTT là quá trình bàn bạc, thảo luận nhằm thong nhat y kién giữa dai diện tập thể NLĐ với NSDLĐ hoặc đại diện NSDLĐ ở các cấp độ khác nhau nhằm xác lập những thỏa thuận chung về vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong QHLĐ. Các cấp thương lượng tập thể Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia ma van dé TLTT được pháp luật các nước quy định cấp thương lượng khác nhau.
TLTT hiện nay được tiễn hành theo nhiều cấp: TLTT cấp doanh nghiệp (bao gồm TLTT trong phạm vi từng bộ phận doanh nghiệp và TLTT trong phạm vi doanh nghiệp); TLTT ở cấp ngành (có thể diễn ra theo hai phạm vi TLTT cấp ngành tại một địa phương va TLTT cấp ngành ở quy mô toàn quốc). Mỗi cấp TLTT khác nhau sẽ dẫn đến các quy định khác nhau về chủ thé tham gia TLTT, thủ tục tiến hành TLTT, kết qua TLTT ở từng cấp độ. Cụ thể: - Thương lượng tập thể cấp ngành Lịch sử của TLTT cấp ngành cũng lâu đời như TLTT. TLTT cấp ngành ra đời dựa trên hoàn cảnh các công nhân làm cùng một việc ở trong cùng một ngành mong muốn có mức lương bằng nhau hoặc giống nhau trong toàn ngành vì như vậy họ có thé tránh được tình huống các công nhân đơn lẻ bi NSDLD trả mức lương thấp hon so với các công nhân khác.
Từ đó dẫn việc thúc đây công đoàn tiễn hành chiến lược việc chuẩn hóa mức lương trong toàn ngành thông qua TLTT ở cấp ngành với một nhóm những NSDLĐ hoặc hiệp hội của ngành đó. Đầu tiên những NSDLĐ chống lại ý định này của công đoàn, tuy nhiên sau đó NSDLD nhận ra những lợi ich của TLTT cấp ngành mang lại, chứng tỏ là một công cụ làm giảm sự luân chuyền lao động (tránh được tình trạng NLD bỏ nơi làm việc nay sang nơi khác với mức lương 10 cao hơn), đồng thời duy trì được sự ôn định trong công việc nên ngày càng được áp dụng rộng rãi. TLTT cấp ngành là hình thức được hau hết các nước Châu Âu (Đức, Pháp, Italia, Bi.) và một số ngành quan trọng ở Hàn Quốc, Nhật, Mỹ áp dụng." Kết quả của TLTT cấp ngành thường dẫn đến sự ra đời của TƯLĐTT cấp ngành. TLTT cấp ngành với ưu điểm thương lượng nhăm thống nhất được một mức lương chung trong toàn ngành trong cùng một công việc không phân biệt điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế, xã hội.
Tuy nhiên TLTT cấp ngành cũng thể hiện sự kém linh hoạt, không thích ứng với điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp nên để tạo được sự thong nhất giữa các doanh nghiệp là điều vô cùng khó khăn. Trong trường hợp một số chủ doanh nghiệp không nhất trí với việc tham gia TLTT hoặc không tan thành với kết quả đạt được sau khi TLTT thì TƯLĐTT ngành thì sẽ khó khăn trong việc triển khai hóa TULDTT trong thực tế. - Thương lượng tập thể cấp doanh nghiệp TLTT ở cấp doanh nghiệp được sử dụng phô biến ở các quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Philipin và một số quốc gia khác. Thành phần tham gia TLTT ở cấp doanh nghiệp bao gồm: Đại điện của NLD tại doanh nghiệp và NSDLD hoặc đại diện NSDLD, đại diện cho NLD thường là công đoàn tại doanh nghiệp đó, trong một số trường hợp có thé là tập thé NLD cử ra hoặc bầu nên bằng hình thức bỏ phiếu kín.
Ưu điểm của hình thức TLTT cấp doanh nghiệp là tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng trong việc tạo ra những điều kiện làm việc cụ thê tại doanh nghiệp. Tuy nhiên hình thức TLTT tại doanh nghiệp cũng có những bắt lợi là tạo ra sự cách biệt giữa các doanh nghiệp. Có thể sẽ tồn tại nhiều TƯLĐTT tại các oanh nghiệp nếu quá trình TLTT thành công theo mô hình tập đoàn hoặc tổng công ty với nhiều ngành nghề kình doanh sản xuất khác nhau.Tuy nhiên, TS Chang Hee Lee - chuyên viên cao cấp của ILO tại văn phòng đại diện ở Việt Nam cho rằng đây là “hình thức TLTT có thé mang lại nhiều thành công và kết quả khả quan nhất”.