Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mở ra thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng nhưng cũng đặt thị trường lao động trước sức ép cạnh tranh khốc liệt. Trong bối cảnh lực lượng lao động cả nước vượt mốc 46 triệu người vào giai đoạn 2001 - 2010, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trở thành yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, bảo đảm an sinh và ổn định kinh tế xã hội.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự bất cập giữa các quy định pháp luật lao động hiện hành với đòi hỏi thực tế của nền kinh tế thị trường mở cửa. Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận về việc làm, đánh giá toàn diện thực trạng khung pháp lý lao động từ năm 1945 đến năm 2010, chỉ ra những điểm nghẽn về chính sách và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật việc làm tại Việt Nam.

Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ lãnh thổ Việt Nam với trọng tâm là các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động, đồng thời đối chiếu có chọn lọc với chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Về thời gian, luận văn tập trung sâu vào giai đoạn thi hành Bộ luật Lao động từ năm 1994 đến năm 2010. Đóng góp của nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp hệ thống luận cứ khoa học hoàn chỉnh, phục vụ trực tiếp cho quá trình xây dựng dự thảo Luật Việc làm và hoàn thiện thể chế an sinh xã hội cho hơn 70% lao động đang làm việc tại khu vực nông thôn và phi chính thức.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết giá trị thặng dư của kinh tế chính trị học Mác - Lênin để phân tích mối quan hệ giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, đồng thời kết hợp khung chuẩn mực việc làm bền vững do Tổ chức Lao động Quốc tế khởi xướng. Hệ thống lý thuyết này định hình 3 khái niệm nền tảng:

Thứ nhất, việc làm được xác định dựa trên 2 điều kiện có tính nguyên tắc quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động: là hoạt động lao động tạo ra thu nhập (điều kiện cần) và hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm (điều kiện đủ). Khái niệm này mở rộng không gian lao động sang cả 5 thành phần kinh tế, xóa bỏ tư duy bao cấp vốn chỉ thừa nhận việc làm trong khu vực nhà nước.

Thứ hai, giải quyết việc làm được tiếp cận theo 2 tầng nghĩa. Nghĩa rộng gắn liền với chiến lược phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế dài hạn. Nghĩa hẹp tập trung vào các biện pháp hạn chế tỷ lệ thất nghiệp, kéo giảm tỷ lệ thiếu việc làm và hỗ trợ tạo sinh kế trực tiếp.

Thứ ba, chuẩn mực việc làm bền vững được xác lập qua 4 trụ cột cốt lõi: năng suất lao động bảo đảm đời sống, bình đẳng cơ hội nghề nghiệp, an toàn lao động và bảo đảm nhân phẩm của người lao động tại nơi làm việc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm kim chỉ nam. Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hơn 250 văn bản quy phạm pháp luật, nghị định, thông tư cùng các báo cáo chuyên đề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong suốt giai đoạn 65 năm (1945 - 2010).

Quy trình chọn mẫu tài liệu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo 4 giai đoạn lịch sử lập pháp: giai đoạn 1945 - 1954, giai đoạn 1955 - 1975, giai đoạn 1976 - 1985 và giai đoạn đổi mới từ năm 1986 đến năm 2010.

Các phương pháp phân tích cụ thể gồm phân tích quy phạm pháp luật, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh luật học. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, giúp nhận diện rõ nét tính kế thừa lịch sử cũng như những mâu thuẫn nội tại của hệ thống pháp luật lao động thực định khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quá trình hoàn thiện pháp luật việc làm tại Việt Nam đã trải qua bước chuyển đổi mang tính cách mạng về nhận thức. Trước năm 1986, Nhà nước đảm bảo bố trí việc làm cho 100% công chức, viên chức theo kế hoạch tập trung. Từ Nghị quyết số 120/HĐBT năm 1992 và Bộ luật Lao động năm 1994 gồm 17 chương, 198 điều (trong đó Chương II có 7 điều quy định trực tiếp về việc làm), quyền tự do tìm kiếm, tự tạo việc làm của công dân đã được luật hóa, giải phóng triệt để năng lực của hơn 30 triệu lao động vào thời điểm chuyển đổi.

Thứ hai, khung pháp lý về giải quyết việc làm đã hình thành 6 nhóm công cụ chủ lực: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, chính sách đào tạo nghề gắn với thị trường, xúc tiến xuất khẩu lao động và tín dụng ưu đãi.

Thứ ba, sự thay đổi tại Điều 18 Bộ luật Lao động qua các đợt sửa đổi vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2009 đã chuyển đổi thuật ngữ "tổ chức dịch vụ việc làm" thành "tổ chức giới thiệu việc làm", giúp ngăn chặn tình trạng thương mại hóa trái phép và nâng cao tỷ lệ kết nối cung cầu lao động thành công lên khoảng 25% trong các kỳ hội chợ việc làm định kỳ.

Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra khoảng trống pháp lý đối với các nhóm lao động đặc thù. Lao động nữ chiếm khoảng 48% lực lượng lao động và hơn 5 triệu người khuyết tật thời kỳ đó vẫn gặp rào cản lớn trong tiếp cận nguồn vốn ưu đãi do thủ tục thế chấp phức tạp và chính sách miễn giảm thuế cho doanh nghiệp tiếp nhận lao động yếu thế chưa đủ hấp dẫn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên bắt nguồn từ việc các văn bản dưới luật mang tính tình thế như Quyết định số 176/HĐBT hay Quyết định số 111/HĐBT vẫn để lại độ trễ trong tư duy quản lý. Khung pháp luật lao động hiện hành chưa theo kịp tốc độ gia tăng khoảng 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động mỗi năm.

Khi đối chiếu với các công trình nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành trong giai đoạn 2001 - 2009, kết quả của luận văn hoàn toàn tương đồng về nhận định: thị trường lao động Việt Nam phát triển chưa đồng bộ, thiếu sự liên kết giữa chính sách dân số, xóa đói giảm nghèo với chính sách việc làm bền vững.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ đường thể hiện quá trình tiến hóa của 4 giai đoạn lập pháp gắn với sự tăng trưởng lực lượng lao động, cùng bảng ma trận phân tích so sánh trách nhiệm pháp lý 3 bên giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động. Sự đối sánh này làm nổi bật yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một đạo luật độc lập về việc làm.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội khóa XIII nghiên cứu, soạn thảo và ban hành Luật Việc làm độc lập trong giai đoạn 2011 - 2013. Đạo luật này cần thay thế các quy định tản mạn tại Chương II Bộ luật Lao động, tích hợp 100% các chính sách về phát triển kỹ năng nghề, dịch vụ việc làm công, thông tin thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp thành một thể thống nhất.

Thứ hai, nâng cấp mạng lưới các Trung tâm Giới thiệu việc làm trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại 63 tỉnh, thành phố. Đặt mục tiêu đến năm 2015, hệ thống này phải đáp ứng khả năng tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho tối thiểu 80% người thất nghiệp nộp hồ sơ và rút ngắn thời gian tìm việc mới xuống dưới 45 ngày.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính cho Quỹ quốc gia về việc làm do Ngân hàng Chính sách Xã hội quản lý. Cần nâng tỷ trọng phân bổ vốn vay ưu đãi thêm 20% mỗi năm, đồng thời bổ sung quy định giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có từ 30% lao động là phụ nữ hoặc từ 10% lao động là người khuyết tật.

Thứ tư, tăng cường hiệu lực thanh tra, giám sát thị trường lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thiết lập chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với 100% các hành vi thu phí môi giới việc làm trái phép, phân biệt đối xử giới tính hoặc vi phạm nghĩa vụ đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng các cơ quan của Quốc hội. Luận văn cung cấp bức tranh lập pháp toàn diện suốt 65 năm cùng hệ thống luận cứ chuẩn xác phục vụ việc sửa đổi Bộ luật Lao động và xây dựng Luật Việc làm mới.

Thứ hai, các học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động và An sinh xã hội. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp tiếp cận đa chiều giữa khoa học pháp lý và kinh tế học thị trường lao động.

Thứ ba, người sử dụng lao động và giám đốc nhân sự tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tài liệu giúp doanh nghiệp nắm vững nghĩa vụ pháp lý, quy trình tuyển dụng chuẩn mực và tận dụng tối đa các chính sách ưu đãi tài chính khi giải quyết việc làm cho lao động đặc thù.

Thứ tư, cán bộ công đoàn và luật sư tư vấn pháp luật lao động. Luận văn trang bị kiến thức chuyên sâu để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động trong các vụ việc tranh chấp về sa thải, trợ cấp mất việc làm và chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm việc làm được xác định dựa trên những tiêu chí nào? Căn cứ Điều 13 Bộ luật Lao động, việc làm được xác định qua 2 tiêu chí cốt lõi: là hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập bằng tiền hoặc hiện vật và hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Mọi công việc thỏa mãn 2 điều kiện này đều được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Người không làm việc và người thất nghiệp khác nhau như thế nào về mặt pháp lý? Người không làm việc là khái niệm rộng hơn, bao gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động không làm việc bất kể có nhu cầu tìm việc hay không. Ngược lại, người thất nghiệp là người có khả năng lao động, đang không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm việc làm nhưng chưa có được chỗ làm.

Trách nhiệm của Nhà nước trong giải quyết việc làm được cụ thể hóa như thế nào? Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua việc ban hành khung khổ pháp lý, đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia, quản lý Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, phát triển hệ thống dạy nghề và thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng nhằm tạo sinh kế bền vững cho nhân dân.

Pháp luật lao động bảo vệ nhóm lao động đặc thù gồm những đối tượng nào? Khung pháp luật dành các chế định ưu tiên bảo vệ đối với lao động nữ (bảo đảm bình đẳng giới và chế độ thai sản), người tàn tật, lao động chưa thành niên và người cao tuổi thông qua các ưu đãi vay vốn, hỗ trợ đào tạo nghề và giảm trừ thuế cho doanh nghiệp tiếp nhận.

Tại sao Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2002 lại đổi tên tổ chức dịch vụ việc làm thành tổ chức giới thiệu việc làm? Việc sửa đổi tại Điều 18 nhằm phân định rõ bản chất hỗ trợ phi lợi nhuận của các trung tâm công lập, tránh nguy cơ thương mại hóa việc làm, bảo vệ người tìm việc khỏi tình trạng lừa đảo, thu phí bất hợp pháp trong bối cảnh thị trường lao động bước đầu hình thành.

Kết luận

Luận văn đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm tại Việt Nam trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế.

Công trình ghi nhận 5 kết luận và đóng góp then chốt:

  • Xác lập góc nhìn toàn diện về quyền tự do việc làm theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá có hệ thống tiến trình lập pháp lao động Việt Nam qua 4 giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 2010.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn thể chế của Bộ luật Lao động 1994 và các lần sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007, 2009.
  • Luận chứng sự cần thiết của việc tiếp cận chuẩn mực việc làm bền vững theo tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế.
  • Đề xuất khung kiến nghị khả thi hướng tới xây dựng đạo luật chuyên biệt về việc làm trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Về lộ trình tiếp theo, việc thể chế hóa các đề xuất của luận văn vào hệ thống pháp luật giai đoạn 2011 - 2020 sẽ tạo bệ đỡ pháp lý vững chắc cho thị trường lao động. Độc giả quan tâm và các nhà nghiên cứu hãy tiếp tục khai thác công trình khoa học này để mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu về an sinh xã hội và quan hệ lao động thời kỳ mới.