Chương 1. Quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp tại một cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội địa phương cấp tỉnh. Thực trạng quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016 Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI MỘT CƠ QUAN QUẢN LÝ BẢO HIỂM XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH Luan van 11 1. Một số vấn đề về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp 1. Thất nghiệp Khái niệm thất nghiệp Thất nghiệp là một vấn đề kinh tế xã hội mà hầu hết các quốc gia quan tâm, hiện nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều tổ chức đưa ra những khái niệm về thất nghiệp như sau: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành” [29]. Như vậy, theo định nghĩa của ILO thì bản chất của thất nghiệp là thị trường không tạo ra được việc làm cho người lao động có khả năng làm việc và chấp nhận một mức tiền công theo giá hiện hành.
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam: “Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, nhu cầu việc làm nhưng đang không có việc làm” [36]. Theo Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 của Việt Nam thì quy định người thất nghiệp là: “Người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [26]. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ bó hẹp trong quy định đối tượng được hưởng BHTN và chưa đề cập đến bản chất của thất nghiệp. Như vậy, kế thừa các khái niệm thất nghiệp trên thì dưới góc độ tiếp cận của quản lý chi BHTN, có thể hiểu “Thất nghiệp là tình trạng những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm và đang tích cực tìm kiếm nhưng vẫn chưa tìm được công việc phù hợp, đã đang ký tại các cơ sở quản lý lao động và trung tâm hỗ trợ việc làm”.
Khái niệm này vừa bao quát được nội hàm bản chất của thất nghiệp vừa có cơ sở dữ liệu thực tế để thống kê tỷ lệ thất nghiệp. Theo đó thì tại Việt Nam, người thất nghiệp sẽ được hiểu là: - Người tuổi từ 15 đến 55 đối với nữ, từ 15 đến 60 đối với nam không có việc làm, có khả năng lao động và đang tìm kiếm việc làm. Luan van 12 - Người lao động trước đây đã có việc làm nhưng vì một số lý do nào đó mà bị mất việc như doanh nghiệp phá sản, bị chấm dứt hợp đồng lao động… và đang tích cực tìm kiếm một công việc để có thu nhập. - Người lao động đến độ tuổi lao động vừa tốt nghiệp các trường phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học, những đối tượng hết nghĩa vụ quân sự nhưng vẫn chưa tìm được việc làm.
- Lao động hết thời gian xuất khẩu đã về nước nhưng chưa có việc làm, những người nghỉ việc tạm thời, không có thu nhập do tính thời vụ của sản xuất. Phân loại thất nghiệp Trong nền kinh tế có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau và tùy theo mục đích nghiên cứu thì thất nghiệp được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, cụ thể như sau: Căn cứ vào tính chất thất nghiệp thì thất nghiệp được chia thành các loại sau: - Thất nghiệp tự nhiên: Đây là loại thất nghiệp để dùng để chỉ mức thất nghiệp mà bình thường nền kinh tế trải qua. Nó xảy ra do quy luật cung - cầu trên thị trường lao động, không mất đi trong dài hạn và tồn tại ngay cả khi thị trường lao động cân bằng. Thông thường tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên có quan hệ chặt chẽ với tỷ lệ lạm phát, có thể thay đổi theo thời gian và chính sách kinh tế của Nhà nước.
- Thất nghiệp tạm thời: Dạng thất nghiệp này bắt nguồn từ sự dịch chuyển bình thường của thị trường lao động. Một nền kinh tế vận hành tốt là có sự ăn khớp về lao động và việc làm. Tuy nhiên trên thị trường khó xảy ra sự ăn khớp đó và luôn xảy ra tình trạng thất nghiệp. Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi lao động dịch chuyển giữa các vùng miền, thuyên chuyển công tác hoặc thay đổi giai đoạn từ công việc này sang công việc khác.
Như vậy, loại thất nghiệp này thường xuyên xảy ra và phổ biến trong xã hội. - Thất nghiệp cơ cấu: là dạng thất nghiệp phát sinh từ sự không ăn khớp giữa cung và cầu lao động. Cầu của lao động này tăng lên, lao động khác giảm đi làm cho cung lao động không kịp điều chỉnh. Cung và cầu không gặp nhau trên thị trường là do khác biệt nhau về địa lý, ngành nghề, trình độ, kỹ năng.
Tăng trưởng Luan van 13 kinh tế làm thay đổi cơ cấu của cầu lao động. Cầu lao động tăng lên ở các khu vực đang mở rộng và có triển vọng và giảm ở khu vực bị thu hẹp hoặc ít triển vọng hơn. Trong nền kinh tế thị trường, sẽ có những ngành thu hút lao động và có những ngành bị thu hẹp lại tạo nên sự dư thừa lao động. Thất nghiệp cơ cấu tăng lên nếu tốc độ chuyển dịch cơ cấu của cầu về lao động tăng hoặc tốc độ thích ứng của lao động đối với sự thay đổi về cơ cấu kinh tế diễn ra chậm.
- Thất nghiệp chu kỳ: Dạng thất nghiệp này dùng để chỉ những biến động của thất nghiệp từ năm này đến năm khác xung quanh mức thất nghiệp tự nhiên và nó gắn liền với những biến động kinh tế trong ngắn hạn. Thất nghiệp chu kỳ xảy ra do mức cầu lao động giảm xuống và theo chu kỳ của nền kinh tế. Sau thời kỳ phát triển hưng thịnh, nền kinh tế đi đến giai đoạn suy thoái, rơi vào khủng hoảng, do đó lạm phát và thất nghiệp tăng lên. Do đó, bản chất của loại thất nghiệp này theo chu kỳ và mang tính quy luật của nền kinh tế.
Như vậy, khi nền kinh tế mở rộng, phát triển thì thất nghiệp chu kỳ biến mất; ngược lại khi nền kinh tế thu hẹp thì thất nghiệp chu kỳ tăng cao. Căn cứ vào ý chí của người lao động thì thất nghiệp được chia thành các loại sau: - Thất nghiệp tự nguyện: Đây là dạng thất nghiệp mà người lao động từ chối một công việc có mức lương không mong muốn, không thỏa đáng hoặc không phù hợp với trình độ chuyện độ mặc dù họ vẫn đang có nhu cầu về việc làm. - Thất nguyện không tự nguyện: Là dạng thất nghiệp người lao động có khả năng lao động, ở độ tuổi lao động, có nhu cầu làm việc và chấp nhận một mức thù lao cụ thể nào đó nhưng không có người sử dụng lao động hoặc người sử dụng lao động không chấp nhận. Ngoài ra, trong quá trình phân tích các chỉ tiêu thất nghiệp, một số loại thất nghiệp đặc trưng cần chú trọng phân tích vì chúng có những tác động nhất định đến chính sách lao động, việc làm và tăng trưởng của nền kinh tế.
Những thất nghiệp đặc trưng gồm: - Thất nghiệp thanh niên: Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), thanh niên gồm những người từ 15 đến 24 tuổi. Thất nghiệp thanh niên là chỉ tiêu được sử Luan van 14 dụng để đo lường: Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên, Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên so với tỷ lệ thất nghiệp người trưởng thành, Tỷ trọng thanh niên trong số người thất nghiệp và Tỷ trọng thanh niên thất nghiệp trong tổng dân số thanh niên. Thường chỉ tiêu này phân bố theo giới tính, khu vực, trình độ chuyên môn kỹ thuật. Thực tế tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm đa số trong những người thất nghiệp cả ở nông thôn và thành thị.
- Thất nghiệp dài hạn: Tỷ lệ thất nghiệp cao và thời gian thất nghiệp dài là vấn đề trầm trọng của nền kinh tế. Thất nghiệp kéo dài 1 năm được coi là thất nghiệp dài hạn. Loại thất nghiệp này gây khó khăn tài chính nêu như không được trợ cấp BHTN. Thất nghiệp dài hạn là chỉ tiêu để tính Tỷ lệ thất nghiệp dài hạn trong tổng lực lượng lao động và Tỷ trọng thất nghiệp dài hạn trong tổng số người thất nghiệp.
- Thất nghiệp phân theo trình độ học vấn: Dạng thất nghiên này được quan tâm và sử dụng nhiều ở Việt Nam. Thất nghiệp phân loại theo trình độ học vấn góp phần cho biết những yếu tố thay đổi trong cầu về lao động. Chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng khi đánh giá cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, việc đào tạo, cung ứng và sử dụng đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật. Nói cách khác, dạng thất nghiệp này phản ánh cơ cấu cung và cầu lao động của nền kinh tế.
Bảo hiểm thất nghiệp Khái niệm Bảo hiểm thất nghiệp BHTN là khái niệm đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, tuy nhiên, ở Việt Nam thì khái niệm này xuất hiện từ 2006 khi Chính phủ ban hành Luật Bảo hiểm xã hội. Theo đó, BHTN là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH Việt Nam có mục đích hỗ trợ thu nhập cho người lao động do thất nghiệp. Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận về khái niệm BHTN, dưới góc độ pháp lý, theo Giáo trình Luật An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB. CAND 2012: “Chế độ BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp cho người lao động bị thất nghiệp và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc” [20].
Luan van 15 Theo Luật BHXH năm 2006: “BHTN là chế độ bù đắp thu nhập cho người lao động do thất nghiệp và hỗ trợ để họ sớm tìm được công việc phù hợp thông qua các quy định đối tượng được hưởng BHTN, điều kiện hưởng, mức trợ cấp thất nghiệp, chính sách việc làm” [26]. Theo Luật việc làm năm 2013: “BHTN là chế độ bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì làm việc, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN” [27]. Theo Luật việc làm thì BHTN được hình thành trên nguyên tắc chia sẻ những rủi ro về thất nghiệp giữa những người tham gia BHTN, tiền lương là cơ sở để tính mức đóng BHTN và mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN.