Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đái tháo đường là bệnh lý rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết, bắt nguồn từ sự suy giảm tiết insulin, khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc phối hợp cả hai cơ chế. Theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2021, toàn cầu có khoảng 537 triệu người trưởng thành mắc bệnh và dự báo con số này sẽ tăng lên 783 triệu người vào năm 2045. Đái tháo đường được xem là đại dịch không lây nhiễm với tỷ lệ tử vong đứng thứ ba sau bệnh tim mạch và ung thư, đồng thời là yếu tố thúc đẩy tiên lượng nặng ở bệnh nhân nhiễm khuẩn và mắc COVID-19.

Trong phác đồ điều trị đái tháo đường typ 2, nhóm chất ức chế enzym α-glucosidase (AGIs) giữ vai trò kiểm soát đường huyết sau ăn thông qua cơ chế làm chậm quá trình thủy phân carbohydrate tại ruột non mà không kích thích tế bào beta tụy tiết insulin, nhờ đó tránh được nguy cơ hạ đường huyết quá mức. Tuy nhiên, các thuốc AGIs tổng hợp thương mại hiện hành như acarbose, miglitol hay voglibose thường gây ra các tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (đầy hơi, sôi bụng, tiêu chảy) và tiềm ẩn nguy cơ tăng transaminase gan. Xu hướng nghiên cứu dược phẩm hiện nay tập trung khai thác các chất ức chế có nguồn gốc tự nhiên từ vi sinh vật nhờ ưu thế sinh trưởng nhanh, quy trình nuôi cấy ổn định và khả năng tạo ra các hoạt chất chuyển hóa thứ cấp đa dạng. Trong đó, chi nấm sợi Aspergillus là đối tượng giàu tiềm năng đã được thế giới nghiên cứu nhiều, nhưng tại Việt Nam các công bố về chủng Aspergillus niger sinh tổng hợp AGIs còn rất hạn chế, mới dừng ở các kết quả sàng lọc ban đầu của Phạm Minh Hồng (2020) và Bùi Hồng Sơn (2021).

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận tốt nghiệp dược sĩ thực hiện 2 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Lựa chọn được dung môi tách chiết hợp chất ức chế α-glucosidase từ chủng Aspergillus niger VTCC 031.
  2. Lựa chọn được điều kiện tinh chế hoạt chất ức chế α-glucosidase từ chủng Aspergillus niger VTCC 031.
  • Đối tượng nghiên cứu: Chủng nấm sợi Aspergillus niger VTCC 031 do Trung tâm bảo tồn chủng giống VTCC (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) lưu giữ và cung cấp.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thời gian thực hiện: Từ tháng 10 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022.
    • Địa điểm thực hiện: Phòng Công nghệ sinh học Enzym thuộc Viện Công nghệ sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) phối hợp với Bộ môn Hóa Sinh (Trường Đại học Dược Hà Nội).
    • Kinh phí hỗ trợ: Đề tài trực thuộc dự án "Phân lập, tuyển chọn và tinh sạch một số hoạt chất thứ cấp mới ức chế α-glucosidase định hướng ứng dụng trong điều trị bệnh đái tháo đường typ II từ các chủng vi sinh vật phân lập ở Việt Nam" (mã số 01/19-21).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực nghiệm

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên cơ sở bệnh sinh đái tháo đường theo phân loại của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và cơ chế xúc tác của enzym α-glucosidase (EC 3.2.1.20). Phân tử α-glucosidase gồm hai tiểu phần N tận và C tận có khối lượng phân tử khoảng 100 kDa, thuộc họ glycoside hydrolase GH31 phân nhóm 1 mang chuỗi amino acid xúc tác đặc trưng WiDMNE. Enzym này thủy phân liên kết α-1,4-glucosid ở đầu không khử của cơ chất disaccharid và oligosaccharid tại diềm bàn chải ruột non. Các chất ức chế AGIs cạnh tranh vị trí hoạt động của enzym, làm giảm hấp thu glucose và thúc đẩy giải phóng hormone GLP-1 từ tế bào L ở hồi tràng. Về mặt phân loại sinh học, chủng nấm sợi Aspergillus niger thuộc họ Trichocomaceae, bộ Eurotiales, lớp Eurotiomycetes; là loài nấm vi sinh được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) công nhận an toàn (GRAS) và có hoạt lực tiết mạnh các enzym và chất chuyển hóa thứ cấp ra môi trường ngoại bào.

Khóa luận triển khai các phương pháp thực nghiệm chuyên sâu bao gồm:

  • Phương pháp vi sinh: Hoạt hóa chủng giống trên thạch đĩa PDA (bột khoai tây 20%, D-glucose 2%, agar 2%, pH 7,0; 30°C trong 72 giờ). Lên men chìm trong bình tam giác với môi trường lỏng gồm D-glucose 5%, cao malt 1%, điều chỉnh pH 5,0 bằng dung dịch HCl 0,1 M và NaOH 0,1 M; nuôi cấy ở 37°C trên máy lắc 200 vòng/phút trong 7 ngày. Dịch nuôi cấy được ly tâm lạnh ở 8.000 vòng/phút trong 10 phút tại 4°C để thu dịch lên men ngoại bào.
  • Phương pháp đo hoạt tính sinh học: Đánh giá hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase dựa trên quy trình của Kim và cộng sự. Sử dụng cơ chất p-nitrophenyl-α-D-glucopyranosid (pNPG) 5 mM trong đệm natri phosphat 0,1 M pH 6,9 kết hợp với enzym α-glucosidase (1–2 U/ml). Đo mật độ quang học sản phẩm thủy phân p-nitrophenol tại bước sóng 405 nm ở các thời điểm 0 phút và 5 phút bằng máy ELISA reader để tính toán phần trăm ức chế.
  • Phương pháp tách chiết phân đoạn: Chiết lỏng - lỏng dịch lên men với các dung môi có độ phân cực giảm dần (n-butanol, ethyl acetat, chloroform, dichloromethane, n-hexan) theo tỷ lệ thể tích dịch chiết : dung môi là 1:1, chiết 3 lần trên máy lắc trong 2 giờ ở nhiệt độ phòng, thu hồi riêng rẽ pha nước và pha hữu cơ.
  • Phương pháp sắc ký tinh sạch:
    • Pha nước: Khảo sát tinh sạch qua 3 hệ cột sắc ký lọc gel kích thước phân tử gồm Sephacryl S-200, Sephadex G-100 và Sephadex G-25; đệm rửa giải là natri phosphat 0,05 M, tốc độ dòng chảy 25 ml/giờ, thu 12 phân đoạn (1,5 ml/phân đoạn). Kiểm tra các phân đoạn bằng sắc ký lớp mỏng (TLC) trên bản mỏng silica gel 60 F254 với hệ dung môi isopropanol : acid acetic : nước (4:1:1, v/v) và phát hiện vết bằng thuốc thử ninhydrin 2%.
    • Pha dung môi: Cắn n-butanol thu được sau khi cất cô quay ở 60°C được hòa tan trong chloroform để loại tạp không tan, tiếp tục cô quay và hòa cắn vào methanol để tạo dịch lên cột. Tinh sạch qua cột sắc ký silica gel 60 (kích thước 52 x 2 cm), tốc độ rửa giải 25 ml/giờ, thu 20 phân đoạn (2 ml/phân đoạn). Khảo sát 5 hệ dung môi pha động trên bản mỏng TLC và phát hiện vết bằng hơi iod.
  • Phương pháp xác định giá trị IC50: Thử nghiệm hoạt tính ức chế ở các dải nồng độ pha loãng khác nhau, dựng đường chuẩn tương quan tuyến tính giữa nồng độ và phần trăm ức chế trên phần mềm Microsoft Excel 2016, đối chiếu song song với chất chuẩn acarbose tinh khiết (Sigma).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp các cơ sở lý luận về bệnh đái tháo đường, cập nhật tiêu chuẩn phân loại bệnh của ADA (2021) và mục tiêu điều trị ở người trưởng thành (HbA1c < 7%, glucose huyết tương đói 80–130 mg/dL, đỉnh sau ăn < 180 mg/dL). Tác giả phân tích cơ chế bệnh sinh, biến chứng cấp tính và mạn tính (tổn thương thần kinh 40–45%, bệnh thận 20–40%, mù lòa do tổn thương võng mạc chiếm 2,6% toàn cầu). Nội dung đi sâu tổng kết cấu trúc phân tử của α-glucosidase, cơ chế ức chế cạnh tranh của các nhóm AGIs và tổng hợp 9 nhóm thuốc hạ đường huyết đường uống. Đồng thời, chương 1 phân loại các hoạt chất AGIs tự nhiên theo cấu trúc hóa học (hợp chất giả đường monosaccharide, azasugar, thiosugar và hợp chất phi glycosyl) phân lập từ thực vật (vasicine, deoxynojirimycin, flavonoid glycoside) và từ vi sinh vật (Actinoplanes sp., Bacillus subtilis). Về chủng nấm sợi Aspergillus niger, văn bản tổng hợp các đặc điểm hình thái khuẩn ty khí sinh, khuẩn ty cơ chất, điều kiện sinh trưởng (khoảng nhiệt độ 6–47°C, pH 1,4–9,8, hoạt độ nước tối thiểu 0,88) và điểm lại các công trình quốc tế phân lập AGIs từ chi Aspergillus (A. terreus, A. oryzae, A. awamori, A. fumigatus).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc chủng nấm Aspergillus niger VTCC 031, toàn bộ danh mục hóa chất tinh khiết của các hãng Merck, Sigma, Bio Basic, Xilong cùng hệ thống trang thiết bị thí nghiệm (máy ELISA reader, máy cất cô quay Buchi, máy ly tâm lạnh Hitachi, cân phân tích Sartorius). Tác giả chi tiết hóa thành phần môi trường nuôi cấy hoạt hóa PDA và môi trường lên men lỏng D-glucose 5% bổ sung cao malt 1%. Nội dung chương chuẩn hóa quy trình xác định hoạt tính ức chế α-glucosidase theo phản ứng so màu pNPG; thiết lập sơ đồ khối chiết lỏng - lỏng phân đoạn 5 dung môi; mô tả quy trình nạp mẫu và rửa giải trên các cột sắc ký gel (Sephacryl S-200, Sephadex G-100, Sephadex G-25) và sắc ký cột silica gel 60. Toàn bộ các công thức toán học xác định phần trăm ức chế enzym, quy trình cạo vết TLC điều chế và phương pháp hồi quy tuyến tính xác định nồng độ ức chế 50% (IC50) được văn bản chuẩn hóa chặt chẽ.

Chương 3: Thực nghiệm, kết quả và bàn luận

Chương thực nghiệm phản ánh toàn diện các số liệu thu được qua từng công đoạn nghiên cứu:

  • Sinh tổng hợp hoạt chất: Dịch nuôi cấy ngoại bào chủng A. niger VTCC 031 sau 7 ngày lên men đạt hoạt tính ức chế α-glucosidase là 67,24% (độ biến thiên mật độ quang ΔA của mẫu đối chứng là 0,019; mẫu thí nghiệm là 0,006).
  • Tách chiết lỏng - lỏng: Kết quả khảo sát 5 dung môi chiết xuất cho thấy ở pha hữu cơ, n-butanol cho hiệu quả cao nhất với hoạt tính ức chế đạt 37,50% (các dung môi ethyl acetat, chloroform, dichloromethane, n-hexan dao động từ 8,82% đến 25,46%). Ở pha nước sau chiết, mẫu chiết với ethyl acetat cho hoạt tính ức chế cao nhất đạt 64,71% (các mẫu còn lại dao động từ 55,15% đến 58,41%). Hoạt chất AGIs thể hiện sự phân bố ở cả hai pha.
  • Tinh sạch pha nước: Pha nước sau chiết ethyl acetat qua 3 loại cột lọc gel đều cho hoạt tính tập trung ở các phân đoạn từ 4 đến 10, mạnh nhất tại phân đoạn 6–8. Giá trị hoạt tính cực đại của phân đoạn số 7 lần lượt là 46,63% (Sephacryl S-200), 70,52% (Sephadex G-100) và 64,51% (Sephadex G-25). Sắc ký bản mỏng TLC các phân đoạn có hoạt tính hiện màu bằng thuốc thử ninhydrin 2% xuất hiện các vết màu hồng tím, cho thấy hoạt chất có bản chất peptit hoặc protein phân tử lượng thấp. Cột Sephadex G-25 thể hiện khả năng loại tạp và tách vết gọn rõ nhất.
  • Khảo sát hệ dung môi pha động TLC pha dung môi: Đánh giá 5 hệ dung môi chạy bản mỏng dịch chiết n-butanol và dịch lên cột:
    • Hệ I (n-BuOH : acid acetic : H2O = 3:1:1) và Hệ II (5:1:4): Vết bị kéo dài, phân tách không rõ ràng.
    • Hệ III (n-BuOH : acid acetic : EtOAc : H2O = 3:1:3:1): Phân tách vết gọn và rõ.
    • Hệ IV (3:1:5:1): Khả năng tách kém hơn hệ III.
    • Hệ V (Hexan : EtOAc : acid acetic = 1:4:2): Tách vết rõ nhất nhưng n-hexan kém phân cực không kéo được toàn bộ chất khỏi điểm chấm mẫu, đồng thời có độc tính cao nên không chọn. Hệ III được chọn làm pha động lên cột silica gel 60.
  • Tinh sạch qua cột silica gel 60 và cạo vết điều chế: Dịch phân đoạn 11 sau khi qua cột lần 1 xuất hiện 3 vết trên TLC. Tác giả tiến hành kỹ thuật cạo vết bản mỏng điều chế lặp lại 10 lần, thu được 3 vết: vết TLC1 (Rf = 0,24), vết TLC2 (Rf = 0,65) và vết TLC3 (Rf = 0,94). Kiểm tra hoạt tính sinh học khẳng định duy nhất vết TLC2 có hoạt tính ức chế α-glucosidase đạt 39,31%, hai vết còn lại không thể hiện hoạt tính.
  • Xác định IC50: Đo hoạt tính của mẫu TLC2 ở 5 mức nồng độ (333,33 đến 1666,67 µg/ml) xác định được phương trình hồi quy tuyến tính tương ứng với giá trị IC50 = 7873,72 µg/ml. Chất chuẩn acarbose thử nghiệm ở dải nồng độ 10 đến 90 µg/ml xác định được giá trị IC50 = 30,83 µg/ml. Phần bàn luận phân tích nguyên nhân giá trị IC50 của mẫu nghiên cứu cao hơn acarbose là do mẫu mới qua tinh chế sơ bộ lần 1, lượng mẫu cạo vết thu được quá nhỏ (0,0005 g) và còn chứa tạp chất cản trở.

Kết quả và đóng góp thực nghiệm

Công trình đã ghi nhận các số liệu thực nghiệm gốc và định lượng cụ thể qua các giai đoạn nghiên cứu:

Giai đoạn mẫu Khối lượng cắn khô (g) Hoạt tính ức chế α-glucosidase (%)
Dịch lên men ban đầu 2,52 67,24
Dịch chiết n-butanol 1,23 37,50
Phân đoạn vết TLC2 0,0005 39,31

Số liệu thực nghiệm xác định đường chuẩn IC50 của mẫu TLC2 và acarbose đối chứng được tổng hợp chi tiết:

Mẫu thử Nồng độ thử nghiệm (µg/ml) Hoạt tính ức chế (%) Giá trị IC50 tính toán
Vết TLC2 333,33
666,67
1000,00
1333,33
1666,67
2,08
3,74
5,38
8,56
10,35
7873,72 µg/ml
Acarbose chuẩn 10,00
30,00
50,00
70,00
90,00
34,18
51,20
63,32
77,27
90,31
30,83 µg/ml
  • Giải pháp kỹ thuật đề xuất:
    • Đề xuất quy trình chiết phân đoạn 2 pha: Chiết bằng n-butanol để thu nhận hoạt chất phân cực trung bình ở pha hữu cơ và chiết bằng ethyl acetat để giữ lại các hoạt chất phân cực cao trong pha nước.
    • Xác định cột Sephadex G-25 là vật liệu tối ưu để loại tạp cho các hoạt chất ức chế α-glucosidase bản chất protein/peptit trong pha nước.
    • Thiết lập thành công tỷ lệ hệ dung môi pha động n-butanol : acid acetic : ethyl acetat : nước (3:1:3:1, v/v) cho sắc ký cột silica gel 60.
  • Đóng góp khoa học: Khóa luận cung cấp dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về quy trình chiết tách và tinh sạch sơ bộ hoạt chất AGIs từ chủng nấm Aspergillus niger VTCC 031 phân lập tại Việt Nam, chứng minh dịch lên men ngoại bào của chủng này chứa đồng thời cả các chất ức chế bản chất peptit/protein tan trong nước và các hoạt chất chuyển hóa thứ cấp tan trong dung môi hữu cơ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Khóa luận tự chỉ ra các hạn chế kỹ thuật trong phạm vi thực nghiệm:

  • Quá trình tinh sạch pha dung môi mới dừng lại ở sắc ký cột silica gel 60 lần thứ nhất kết hợp cạo vết bản mỏng thủ công; lượng cắn vết TLC2 thu được rất nhỏ (0,0005 g) và chưa loại bỏ được hoàn toàn tạp chất, dẫn đến giá trị IC50 thực nghiệm còn cao hơn nhiều so với acarbose tinh khiết.
  • Có hiện tượng suy giảm hoạt tính ức chế từ dịch lên men ban đầu (67,24%) xuống dịch chiết n-butanol (37,50%) và vết TLC2 (39,31%), được nhận định do sự mất mát hoặc loại bỏ bớt các hợp chất có tác dụng hiệp đồng trong dịch thô.
  • Pha nước mới dừng ở mức nhận diện sơ bộ sự có mặt của peptit/protein qua phản ứng màu ninhydrin trên bản mỏng TLC, chưa tiến hành định lượng protein, xác định khối lượng phân tử hay tinh chế sâu hơn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất bao gồm:

  • Đối với pha nước: Sử dụng màng lọc tiếp tuyến hoặc cột siêu lọc có kích thước giới hạn (cut-off) nhỏ hơn 5 kDa để làm giàu các peptit AGIs; kết hợp điện di gel polyacrylamide (SDS-PAGE), định lượng protein và phân tích khối phổ (MS).
  • Đối với pha dung môi: Khảo sát hệ dung môi để chạy sắc ký cột silica gel lần 2, kết hợp sắc ký pha đảo và sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) nhằm thu nhận hoạt chất ở độ tinh khiết cao phục vụ giải mã cấu trúc hóa học.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Dược học, Hóa sinh học, Công nghệ sinh học và Hóa hợp chất tự nhiên. Các nội dung thực nghiệm cụ thể sau đây có thể ứng dụng trực tiếp:

  • Quy trình sàng lọc hoạt tính ức chế enzym α-glucosidase in vitro trên khay vi thể 96 giếng đo quang phổ ở bước sóng 405 nm.
  • Phương pháp khảo sát độ phân cực của dung môi trong chiết xuất lỏng - lỏng dịch lên men vi sinh vật ngoại bào.
  • Kỹ thuật thăm dò hệ dung môi khai triển sắc ký bản mỏng và thông số vận hành sắc ký cột lọc gel (Sephadex G-25) và sắc ký cột pha thuận (Silica gel 60).

Câu hỏi thường gặp

1. Chủng giống Aspergillus niger VTCC 031 được nuôi cấy trong điều kiện công nghệ nào để sinh tổng hợp hoạt chất AGIs? Chủng được hoạt hóa trên môi trường thạch đĩa PDA ở 30°C trong 72 giờ (pH 7,0), sau đó cấy chuyển vào môi trường lên men lỏng gồm 5% D-glucose và 1% cao malt (pH 5,0), nuôi ở nhiệt độ 37°C với chế độ lắc 200 vòng/phút trong thời gian 7 ngày.

2. Tại sao nghiên cứu lựa chọn hệ dung môi n-BuOH : acid acetic : EtOAc : H2O (3:1:3:1) thay vì hệ chứa n-hexan để chạy sắc ký cột silica gel? Mặc dù hệ dung môi chứa n-hexan (Hexan : EtOAc : acid acetic = 1:4:2) tách vết gọn trên TLC, nhưng do n-hexan có độ phân cực rất kém nên không kéo được toàn bộ hoạt chất lên khỏi điểm chấm ban đầu. Đồng thời, n-hexan là dung môi độc hại đối với thiết bị và môi trường, không phù hợp cho mục tiêu nâng quy mô chiết xuất sau này. Do đó, hệ dung môi phân cực bậc ba (hệ III) được lựa chọn.

3. Vì sao hoạt tính ức chế α-glucosidase lại xuất hiện ở cả pha nước và pha dung môi sau khi chiết phân đoạn? Dịch lên men ngoại bào của A. niger VTCC 031 chứa nhiều nhóm hoạt chất ức chế khác nhau: pha nước tập trung các hợp chất phân cực cao có bản chất peptit hoặc protein phân tử lượng thấp (dương tính với thuốc thử ninhydrin), trong khi pha n-butanol hòa tan các hoạt chất chuyển hóa thứ cấp ít phân cực hơn.

4. Khóa luận đã phân lập được phân đoạn nào thể hiện hoạt tính sinh học rõ rệt nhất từ cột silica gel lần 1? Từ phân đoạn số 11 qua cột silica gel lần 1, kỹ thuật cạo vết bản mỏng TLC điều chế đã tách được 3 vết, trong đó duy nhất vết TLC2 (có hệ số lưu giữ Rf = 0,65) thể hiện hoạt tính ức chế α-glucosidase đạt 39,31%, trong khi vết TLC1 (Rf = 0,24) và TLC3 (Rf = 0,94) hầu như không có hoạt tính.

5. Tại sao giá trị IC50 của mẫu TLC2 (7873,72 µg/ml) lại cao hơn nhiều so với acarbose đối chứng (30,83 µg/ml)? Mẫu TLC2 mới chỉ qua tinh chế sơ bộ 1 lần qua cột silica gel và thu gom bằng cạo vết thủ công với lượng cắn rất nhỏ (0,0005 g). Mẫu vẫn còn chứa các tạp chất chưa được loại bỏ hoàn toàn, làm suy giảm hiệu lực ức chế tương đối so với acarbose ở dạng hợp chất đơn tinh khiết chuẩn thương mại.

Kết luận

Khóa luận đã khảo sát thành công các điều kiện công nghệ tách chiết và bước đầu tinh sạch hoạt chất ức chế α-glucosidase từ chủng nấm sợi Aspergillus niger VTCC 031, ghi nhận hoạt tính ức chế của dịch lên men đạt 67,24%. Nghiên cứu xác định n-butanol và ethyl acetat là các dung môi thích hợp cho quá trình chiết phân đoạn hai pha, đồng thời lựa chọn được cột Sephadex G-25 cho pha nước và hệ dung môi n-BuOH : acid acetic : EtOAc : H2O (3:1:3:1) cho sắc ký cột silica gel 60 ở pha hữu cơ. Kết quả phân lập được vết TLC2 có hoạt tính ức chế 39,31% với giá trị IC50 đạt 7873,72 µg/ml là cơ sở thực nghiệm quan trọng phục vụ các bước tinh sạch sâu và xác định cấu trúc hóa học tiếp theo.