Chương 1: Cơ sở lý luận - Trình bày các lý thuyết, khái niệm về xuất khẩu cũng nhƣ các nhân tố tác động, ảnh hƣởng đến hoạt động xuất khẩu. Khái quát chung về quan hệ Việt Nam-Myanmar và cơ hội khi cộng đồng kinh tế Asean đƣợc hình thành. -Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu két sắt sang thị trường Myanmar của công ty Thiện Chí - Giới thiệu chung về tình trạng hoạt động kinh doanh cũng nhƣ quá trình hình thành và phát triển của công ty. Trong đó, cũng nêu rõ về thực trạng tổ chức xuất khẩu hàng qua Myanmar tại công ty bên cạnh những thuận lợi và khó khăn.
Đánh giá chung về các tồn tại và thành tựu mà công ty đạt đƣợc trong hoạt động xuất khẩu. -Chương 3: Định hướng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Myanmar - Nối tiếp chƣơng 2, trọng tâm đƣa ra những giải pháp giải quyết hạn chế ở chƣơng trƣớc đồng thời cũng đề ra một số định hƣớng phát triển cho công ty trong thời gian tới.TS Võ Thanh Thu SVTH: Bùi Thị Quỳnh Nhƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 5 Khoa Quản Trị Kinh Doanh CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Hoạt động xuất khẩu của 1 công ty 1.1 Khái niệm về xuất khẩu Xuất khẩu là việc bán hàng hoá và dịch vụ vƣợt qua biên giới quốc gia trên cơ sở dùng tiền tệ làm đơn vị thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc đối với cả hai quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động rất cơ bản của kinh tế đối ngoại, đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển.
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác đƣợc lợi thế của các quốc gia trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nƣớc. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại hàng hoá khác nhau, phạm vi hoạt động xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian.2 Vai trò xuất khẩu đối với công ty Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hƣớng vƣơn ra thị trƣờng quốc tế là một xu hƣớng chung của tất cả các quốc gia và các doanh nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con đƣờng quen thuộc để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch bành trƣớng, phát triển, mở rộng thị trƣờng của mình: - Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của doanh nghiệp không chỉ đƣợc các khách hàng trong nƣớc biết đến mà còn có mặt ở thị trƣờng nƣớc ngoài.
- Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho quá trình phát triển. - Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK cũng nhƣ các đơn vị tham gia nhƣ: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong khả năng xuất khẩu các thị trƣờng mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập. - Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
- Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị tham gia xuất khẩu trong và ngoài nƣớc. Đây là một trong những nguyên nhân buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lƣợng hàng hoá xuất khẩu, các GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu SVTH: Bùi Thị Quỳnh Nhƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 6 Khoa Quản Trị Kinh Doanh doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các nguồn lực. - Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đƣợc nhiều lao động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên và tăng thêm lợi nhuận.3 Các hình thức xuất khẩu a) Xuất khẩu tại chỗ: - Khái niệm: Đây là hình thức hàng hóa sản xuất tại Việt Nam bán cho thƣơng nhân nƣớc ngoài nhƣng giao hàng cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam theo chỉ định của thƣơng nhân nƣớc ngoài. - Đặc điểm: + Hợp đồng ký kết phải là hợp đồng ngoại thƣơng.
+ Nơi giao, nhận: Trong hợp đồng phải có điều khoản giao, nhận hàng tại Việt Nam và ghi rõ tên, địa chỉ của doanh nghiệp nhập khẩu tại chỗ. + Phƣơng thức thanh toán: Trong hợp đồng phải có điều khoản quy định thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển dổi qua ngân hàng. + Đối tƣợng: Là hàng hóa bán cho thƣơng nhân nƣớc ngoài, nhƣng theo chỉ định của thƣơng nhân nƣớc ngoài giao cho doanh nghiệp khác tại Việt Nam. + Các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các thủ tục hải quan về xuất khẩu tại chỗ.
+ Định kỳ hàng quý, doanh nghiệp xuất khẩu tại chỗ phải báo cáo cơ quan Thuế sở tại và cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục xuất nhập khẩu tại chỗ về tình hình, số liệu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ. + Về thuế GTGT: hàng hóa xuất khẩu tại chỗ có thuế GTGT là 0%. + Về thuế xuất khẩu: nộp theo quy định của Luật thuế xuất khẩu và biểu thuế xuất khẩu hiện hành. - Ưu điểm: + Giúp tiết kiệm đƣợc một phần chi phí nhƣ cƣớc vận chuyển, bảo hiểm hàng hóa khi đi đƣờng xa.
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu. + Giảm rủi ro kinh doanh xuất nhập khẩu. - Hạn chế: Thủ tục khá phức tạp. - Điều kiện áp dụng: GVHD: GS.TS Võ Thanh Thu SVTH: Bùi Thị Quỳnh Nhƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 7 Khoa Quản Trị Kinh Doanh + Phù hợp với các doanh nghiệp chƣa có nhiều kinh nghiệm về thị trƣờng.
+ Áp dụng khi có yêu cầu của khách hàng nƣớc ngoài. + Nên áp dụng nếu muốn giảm rủi ro kinh doanh. b) Gia công hàng xuất khẩu - Khái niệm: Gia công xuất khẩu là một phƣơng thức sản xuất hàng xuất khẩu. Trong đó ngƣời đặt gia công ở nƣớc ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu vad định mức cho trƣớc.
Ngƣời nhận gia công trong nƣớc tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra ngƣời nhận gia công sẽ giao lại cho ngƣời đặt gia công để nhận tiền gia công. - Đặc điểm: Khi gia công hàng hóa cho thƣơng nhân nƣớc ngoài để tiêu thụ ở nƣớc ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu có thể đƣợc gia công nếu đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép. Có 3 hình thức gia công: + Nhận nguyên liệu giao thành phẩm: Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm (không chịu thuế quan) cho bên nhận gia công để chế biến sản phẩm.
Sau thời gian sản xuất sẽ thu hồi thành phẩm và trả phí gia công. Thực chất đây là hình thức “làm thuê” cho bên đặt gia công vì quyền sở hữu nguyên liệu vẫn thuộc về bên này. Đây là hình thức gia công sản xuất chủ yếu vì công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu của Việt Nam chƣa phát triển, chƣa đạt chất lƣợng nhƣ mong muốn. + Mua đứt, bán đoạn dựa trên hợp đồng mua bán dài hạn với nƣớc ngoài: Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công.
Sau thời gian sản xuất sẽ mua lại thành phẩm. Trƣờng hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công, do đó phải chịu thuế quan dẫn đến giá trị thực tế sau khi nhập trở lại tăng them. Thực chất đây là hình thức bên đặt gia công giao nguyên liệu, giúp đỡ kỹ thuật cho bên nhận gia công và bao tiêu sản phẩm. + Kết hợp cả 2 hình thức trên: Bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính, còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ.TS Võ Thanh Thu SVTH: Bùi Thị Quỳnh Nhƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa Luận Tốt Nghiệp 8 Khoa Quản Trị Kinh Doanh *Lưu ý: Còn có hình thức gia công chuyển tiếp là hình thức sản phẩm gia công của hợp dồng gia công xuất khẩu này đƣợc sử dụng làm nguyên liệu gia công cho hợp đồng gia công xuất khẩu khác tại Việt Nam (theo sự chỉ định của bên đặt gia công ở nƣớc ngoài).
- Ưu điểm: + Đây là hình thức rất thích hợp cho các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tƣ hạn chế, chƣa am hiểu luật lệ và thị trƣờng thế giới, chƣa có thƣơng hiệu, kiểu dáng công nghiệp nổi tiếng thông qua gia công xuất khẩu vẫn có thể thâm nhập vào thị trƣờng thế giới ở mức độ nhất định. + Thị trƣờng tiêu thụ có sẵn, không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản phẩm xuất khẩu. Vốn đầu tƣ cho sản xuất ít. + Giải quyết công ăn việc làm cho ngƣời lao động, thu ngoại tệ (có thể xem là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ).
+ Học hỏi và tích lũy kinh nghiệm sản xuất, tạo mẫu mã bao bì, kinh nghiệm làm thủ tục xuất khẩu, tích lũy vốn. + Rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu ít vì đầu vào và đầu ra của quá trình kinh doanh đều do phía đặt gia công nƣớc ngoài lo. - Hạn chế: + Tính bị động cao: vì toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp nhận gia công phụ thuộc vào đối tác nƣớc ngoài (bên đặt gia công), phụ thuộc về thị trƣờng giá bán sản phẩm, giá đặt gia công, nguyên vật liệu, mẫu mã, nhãn hiệu sản phẩm… + Một số trƣờng hợp bên phía nƣớc ngoài lợi dụng hình thức gia công để bán máy móc mới hoặc đƣa máy móc cũ, lạc hậu cho phía Việt Nam, sau một thời gian không có thị trƣờng đặt gia công nữa, máy móc mới phải bỏ không gây lãng phí, còn máy cũ thì gây ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng đến sức khỏe công nhân. + Năng lực kinh doanh kém làm cho nhiều doanh nghiệp bị phía bên đặt gia công lợi dụng quota phân bổ để đƣa hàng vào thị trƣờng ƣu đãi hoặc đƣa các nhãn hiệu hàng hóa chƣa đăng ký hoặc nhãn hiệu giả vào Việt Nam.