Chương 1 đến XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống thuế mã HS (Hệ thống hài hòa hóa mã số thuế). NSXK là một loại hàng hoá xuất khẩu, được bán trên thị trường ngoài nước. Vì vậy, nó cần phải đáp ứng được các nhu cầu của nước nhập khẩu và người tiêu dùng tại nước nhập khẩu về các chỉ số dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, an toàn kỹ thuật, môi trường. Nông sản chủ yếu là các hàng tiêu dùng thiết yếu, việc XKNS chịu sự kiểm soát ngặt nghèo về chất lượng, đặc biệt là VSATTP.
– Cục an toàn thực phẩm Hai là, chủ thể của XKNS hay còn gọi là người bán là doanh nghiệp kinh doanh XKNS. Các thương lái và người nông dân của nước sở tại là các trung gian trong quá trình XKNS. Nếu tổ chức không tốt dễ dẫn đến tranh giành, cạnh tranh không lành mạnh, bán phá giá. Ba là, người bán và người mua hàng NSXK là những người sống ở các nước khác nhau, có phong tục, tập quán và những nhu cầu khác nhau đối với tiêu dùng hàng nông sản.
10 Bốn là, xem xét hoạt động XKNS theo chuỗi giá trị. Từ sản xuất đến xuất khẩu, hàng nông sản phải trải qua ba khâu chính: sản xuất nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp), thu mua, sơ chế/chế biến và bảo quản nông sản (thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp - dịch vụ), và cuối cùng là xuất khẩu nông sản (thuộc lĩnh vực thương mại). Các khâu này đều liên quan và ảnh hưởng lẫn nhau. Mỗi một khâu trong quá trình này đều có những đặc điểm riêng biệt.
Xuất khẩu (tiêu thụ) là khâu cuối cùng trong chuỗi giá trị của hàng nông sản. Đây là khâu thu được nhiều lợi nhuận nhất trong chuỗi. Hoạt động XKNS tuân theo sự điều tiết của thị trường và được tiến hành trên cơ sở tự do, bình đẳng theo giá cả thị trường. Trong QLNN, cần điều tiết lợi ích giữa các khâu, phối hợp giữa các bộ ngành để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản.
Năm là, hoạt động XKNS có nhiều nước tham gia. Mỗi nước có thể thực hiện tất cả các khâu trong chuỗi giá trị hàng NSXK, từ sản xuất, chế biển, đến XKNS, hoặc chỉ tham gia khâu chế biến và XKNS tùy thuộc vào khả năng và điều kiện của từng nước. Các nước có lợi thế trong hoạt động XKNS không phụ thuộc vào việc nước đó đã XKNS nhiều năm hay không. Điều quan trọng để giành được lợi thế cạnh tranh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất lượng, thương hiệu, thông tin thị trường hàng NSXK Sáu là, hoạt động XKNS phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường thế giới.
Việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương về cơ bản mang lại những tác động tích cực cho hoạt động XKNS. Ngoài ra, các thay đổi về cung cầu hàng nông sản, về chính sách của nước nhập khẩu, về đối thủ cạnh tranh đều có tác động lớn đến hoạt động XKNS. Điều này đòi hỏi các nước nâng cao khả năng dự báo thị trường, cơ chế, chính sách điều hành quản lý hoạt động XKNS phải linh hoạt để theo kịp với những sự thay đổi nhanh chóng trên thị trường thế giới 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản 1.
Nhân tố quốc tế a. Quy mô , tốc độ tăng trưởng thị trường của nông sản Việt Nam Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất của phần lớn cây trồng đạt khá so với năm trước, chăn nuôi tăng trưởng ổn định, kim ngạch xuất khẩu một số nông sản năm 2021 tăng cao góp phần duy trì nhịp tăng trưởng của cả khu vực. Theo Tổng cục thông kế thì ngành nông nghiệp tăng 3,18%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,88%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 1,73%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm. Về sản xuất lúa, diện tích lúa cả năm ước đạt 7,24 triệu ha, giảm 38,3 nghìn ha so với năm trước do chuyển đổi cơ cấu sản xuất và mục đích sử dụng đất; năng suất 11 lúa ước đạt 60,6 tạ/ha, tăng 1,8 tạ/ha; sản lượng lúa đạt 43,88 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.
Trong đó: Lúa đông xuân có diện tích gieo trồng đạt 3.006,8 nghìn ha, giảm 17,2 nghìn ha; năng suất đạt ở mức cao với 68,6 tạ/ha, tăng 2,9 tạ/ha; sản lượng lúa đông xuân đạt 20,63 triệu tấn, tăng 755,1 nghìn tấn. Lúa hè thu có diện tích gieo trồng đạt 1.954,2 nghìn ha, tăng 9,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2020; năng suất đạt 57 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha; sản lượng đạt 11,14 triệu tấn, tăng 389,1 nghìn tấn. Lúa thu đông có diện tích gieo trồng lúa thu đông năm 2021 ước tính đạt 719,7 nghìn ha, giảm 4,3 nghìn ha so với vụ thu đông năm trước chủ yếu do chuyển đổi sang trồng cây ăn quả và do bị ảnh hưởng dây chuyền từ vụ hè thu xuống giống muộn, một số chân ruộng không đủ thời vụ sản xuất nên tạm cho đất nghỉ ngơi, mở ruộng đón phù sa chuẩn bị cho vụ đông xuân sắp tới; năng suất toàn vụ ước tính đạt 56,1 tạ/ha, tăng 0,5 tạ/ha; sản lượng ước tính đạt 4,04 triệu tấn, tăng 9,4 nghìn tấn. Lúa mùa có diện tích gieo cấy là 1.559,7 nghìn ha, giảm 26,1 nghìn ha so với năm trước, chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng sang trồng cây hằng năm khác hoặc cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn; năng suất ước tính đạt 51,7 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; sản lượng chung toàn vụ ước tính đạt 8,07 triệu tấn, giảm 36,2 nghìn tấn so với vụ mùa năm trước.
Về cây lâu năm, trong năm 2021, diện tích trồng cây lâu năm ước tính đạt 3.688,6 nghìn ha, tăng 2% so với năm 2020, bao gồm nhóm cây công nghiệp đạt 2.209,9 nghìn ha, tăng 1,1%; nhóm cây ăn quả đạt 1.173,4 nghìn ha, tăng 3,4%; nhóm cây lấy dầu đạt 189,1 nghìn ha, tăng 3,2%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 55 nghìn ha, tăng 3,8%. Về chăn nuôi, ngành chăn nuôi đã có nhiều giải pháp tích cực để kiểm soát dịch bệnh trên gia súc, gia cầm nhờ đó mà dịch bệnh đã giảm, nhu cầu thị trường tăng lên trong những tháng cuối năm, sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng so với năm trước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Sản lượng một số sản phẩm chăn nuôi chủ yếu năm 2021 đều tăng so với năm trước như: Sữa đạt 1,2 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm 2020; trứng đạt 17.530,4 triệu quả, tăng 5,1%; thịt bò đạt 458,3 nghìn tấn, tăng 3,8%, thịt lợn đạt 4.180,2 nghìn tấn, tăng 3,6%… b. Cơ chế, chính sách của các nước nhập khẩu Cũng như các lĩnh vực khác, trong nông nghiệp, tiếp cận thị trường là mức độ một nước cho phép hàng nhập khẩu bên ngoài thâm nhập vào thị trường của mình.
Trong thương mại hàng nông sản, ngoài thuế quan, các biện pháp phi thuế quan thường được sử dụng để điều tiết việc nhập khẩu nông sản. Mặt hàng nông sản nhập khẩu vào một quốc gia có thể được điều chỉnh và bị chi phối bởi một hệ thống các luật sau đây: luật kiểm soát ngoại hối và ngoại thương, luật và quy định liên quan đến hàng cấm, luật và quy định liên quan đến kiểm dịch của Chính phủ, các thủ tục hải 12 quan, các quy định về thuế, luật về trách nhiệm sản phẩm…Nếu quốc gia nhập khẩu có một hệ thống luật thông thoáng đối với các nhà xuất khẩu nông sản, các rào cản thương mại như chính sách thuế và các công cụ phi thuế quan không quá khắt khe, thì sẽ tạo điều kiện cho mặt hàng nông sản của nước xuất khẩu dễ dàng thâm nhập vào thị trường nhập khẩu. Ngược lại, sẽ tạo nên áp lực hạn chế hoạt động xuất khẩu nông sản của quốc gia xuất khẩu. Mặt khác để không gặp phải những khó khăn khi đưa hàng nông sản thâm nhập vào thị trường nước ngoài, các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản cần chủ động tìm hiểu về hệ thống luật pháp, đặc biệt là các quy định về chất lượng và kỹ thuật đối với hàng nông sản.
Nếu những quy định này là hợp lý (ví dụ như các quy định về sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm) thì các doanh nghiệp buộc phải tuân theo. Ngược lại, nếu những quy định này thiếu hợp lý do quốc gia nhập khẩu muốn bảo hộ ngành sản xuất trong nước thì nước xuất khẩu cần nhanh chóng đàm phán với nước nhập khẩu để rỡ bỏ. Nhu cầu của nước nhập khẩu Hoạt động xuất khẩu là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc gia khác. Vì thế xuất khẩu không chỉ phụ thuộc vào nhóm nhân tố bên trong quốc gia xuất khẩu mà còn phụ thuộc vào những nhân tố thuộc về quốc gia nhập khẩu.
Các nhân tố đó là: Môi trường văn hóa - xã hội của nước nhập khẩu: Môi trường sống, các phong tục tập quán, thói quen… là các nhân tố quyết định đến sở thích, thị hiếu người tiêu dùng. Người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau lại có sở thích và thị hiếu tiêu dùng khác nhau. Doanh nghiệp muốn xuất khẩu hàng nông sản hiệu quả trên từng thị trường thì phải hiểu rõ những sở thích và thị hiếu tiêu dùng đó. Đối với mặt hàng nông sản, đây là mặt hàng phụ thuộc rất nhiều vào khẩu vị và thói quen tiêu dùng, đồng thời nhu cầu về nông sản có thể tăng giảm theo xu hướng tiêu dùng như: tăng sử dụng các loại nông sản có lợi cho sức khỏe, tăng sử dụng nông sản trái vụ, sử dụng nhiều nông sản vì mục đích ăn kiêng… Các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản trước khi xâm nhập vào thị trường nước ngoài cần phải có quá trình tìm hiểu thị hiếu và sở thích người tiêu dùng cùng với những xu hướng tiêu dùng nông sản trên thị trường đó nhằm đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của thị trường.
Thu nhập của nước nhập khẩu: Khi thu nhập tăng lên, người tiêu dùng của nước nhập khẩu nông sản sẽ tiêu dùng nhiều hơn do có nguồn tài chính dồi dào hơn. Khi đó, hoạt động xuất khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng của nước xuất khẩu sẽ có cơ hội tăng lên và ngược lại, khi kinh tế quốc gia nhập khẩu gặp khó khăn sẽ khiến sản lượng cũng như giá trị xuất khẩu của quốc gia xuất khẩu giảm. Mức độ cạnh tranh: Một thị trường nhập khẩu tiềm năng luôn là đích đến của các quốc gia xuất khẩu.