Chương 1: Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại và một số kinh nghiệm của các nước về phát triển ngoại thương. Chương 2: Những điều kiện và thực trạng của hoạt động ngoại thương trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển hoạt động ngoại thương ở Thành phố Hồ Chí Minh. 6 Chƣơng 1 TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC MỞ RỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGOẠI THƢƠNG 1.
Tính tất yếu khách quan của việc mở rộng kinh tế đối ngoại 1. Bối cảnh quốc tế và trong nước Thế giới ngày nay đang có nhiều sự thay đổi lớn cả về sự phát triển của lực lượng sản xuất lẫn mối quan hệ quốc tế. Xu thế của thế giới từ đối đầu đã chuyển dần sang đối thoại và hợp tác, xu thế hội nhập mở cửa ngày càng trở nên phổ biến, mặt khác mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn nhiều so với các thập kỷ trước. Tất cả các vấn đề trên đều xuất phát bởi các nguyên nhân sau đây: - Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai xuất hiện đã làm thay đổi tính chất của nền sản xuất.
Từ chỗ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên là chính đã chuyển sang sử dụng các vật phẩm do con nguời chế tạo ra với hàm lượng chất xám và trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao. Sở dĩ như vậy là do sự phát triển kinh tế theo kiểu truyền thống theo quy luật đánh đổi đã phải trả giá quá đắt, tài nguyên bị khai thác đến cạn kiệt kèm theo đó là nạn ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng, đe dọa trực tiếp đến đời sống của con 7 người trên trái đất. Từ đó buộc các quốc gia trên thế giới phải thận trọng hơn trong việc tính toán hiệu quả kinh tế đồng thời phải bắt tay nhau trong vấn đề bảo vệ môi trường sống trên hành tinh của chúng ta. - Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã trở thành vấn đề sống còn của các quốc gia trên thế giới.
Mặt khác, sự cạnh tranh khốc liệt để giành giật thị trường đã dẫn đến việc hình thành các liên minh kinh tế khu vực và liên minh kinh tế quốc tế. Điều này chứng tỏ rằng hoạt động thương mại quốc tế đã giữ vai trò quan trọng không thể thiếu đối với các quốc gia, không một nước nào có thể đứng ngoài cuộc vì dù muốn hay không đã bị ràng buộc chặt chẽ về kinh tế, xu thế hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng trở nên phổ biến. - Hầu hết các quốc gia hiện nay đều lựa chọn chiến lược kinh tế mở, nhất là các nước đang phát triển nhằm tranh thủ sự chuyển giao công nghệ và nguồn vốn từ nước ngoài biến ngoại lực thành nội lực để đẩy nhanh quá trình phát triển tích cực nền kinh tế. Đều này hết sức có ý nghĩa đối với những nước như Việt Nam vì nó đã tạo tiền đề để quá độ về cơ sở vật chất kỹ thuật lên một trình độ mới.
- Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nhiều nước, vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước đã thể hiện ngày càng rõ nét hơn. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều lựa chọn cơ cấu kinh tế mở, còn đối với các nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa thì chọn chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu để đẩy nhanh quá trình hội nhập. Từ những nguyên nhân trên cho phép rút ra những nhận định sau: - Quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay đã có những nội dung mới. Đó là sự chuyển giao công nghệ và các hình thức hợp tác quốc tế ngày càng trở nên đa dạng và phong phú hơn.
- Mỗi quốc gia phải định hướng đúng về chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược về cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển kinh tế xã hội theo 8 hướng xuất khẩu, khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các quốc gia, tận dụng được những lợi thế và thời cơ do xu thế quốc tế hóa mang lại. Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp mang nặng tính tự cấp tự túc sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với quá trình đổi mới, mở cửa kinh tế, trong những năm gần đây hoạt động kinh tế đối ngoại của nước ta đã phát triển rất mạnh mẽ, có thể cụ thể một số nét cơ bản sau: - Sau khi Liên Xô (cũ) và khối SEV tan rã, kể từ năm 1991, Việt Nam buộc phải chuyển hướng thay đổi các thị trường truyền thống Đông Âu sang các thị trường khu vực khác như: Đông Bắc Á, Trung Đông, Tây Âu, Bắc Mỹ. Dưới góc độ mậu dịch thì đó là sự chuyển đổi từ thị trường đồng tiền không có khả năng chuyển đổi sang thị trường có đồng tiền có khả năng chuyển đổi.
- Năm 1993, chúng ta đã khai thông quan hệ với các tổ chức quốc tế khác như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), ADP… - Ngày 25/07/1995, gia nhập chính thức ASEAN, đồng thời gia nhập vào khu vực mậu dịch tự do (AFTA) và cam kết thực hiện chương trình CEPT. - Năm 1995 Mỹ xóa bỏ cấm vận kinh tế Việt Nam, điều này đã tạo nhiều thuận lợi hơn cho ta trong quan hệ kinh tế đối ngoại với các nước khác trên thế giới, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ đã thúc đẩy quan hệ mậu dịch giữa hai nước tăng nhanh. Năm 2000, hiệp định thương mại Việt Mỹ đã được ký kết và thực hiện. - Tháng 3 năm 1996 tham gia diễn đàn hợp tác Á- Âu ASEM với tư cách là thành viên sáng lập, ngày 15/06/1996 gửi đơn xin gia nhập diễn đàn hợp tác Châu Á Thái Bình Dương APEC và năm 1998 được công nhận là thành viên của tổ chức này, hội nhập đầy đủ đến năm 2020.
9 - Tháng 12 năm 1998 gửi đơn xin gia nhập WTO, cho đến nay đã tiến hành mười phiên đàm phám để giải thích các chính sách kinh tế Việt Nam, tiến hành đàm phán song phương và đa phương với trên 130 nước. Nhìn chung, đến năm 1998 chính sách ngoại thương của nước ta đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VIII) đã hoàn thiện chủ trương xây dựng nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu và đi đôi với việc bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước, đặt các doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khả năng cạnh tranh của các mặt hàng Việt Nam trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, những biện pháp của chính phủ triển khai thực hiện chủ trương này chưa đồng bộ, còn nhiều kẽ làm cho tiêu cực phát sinh, việc này đã tạo không ít những khó khăn cho các doanh nghiệp, làm hạn chế hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Trong đó cụ thể là việc quản lý về hạn ngạch, quy định đầu mối xuất nhập khẩu không hợp lý, thủ tục quản lý còn nhiêu khê, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ liên quan gây nhiều phiền hà cho các doanh nghiệp.
Đặc biệt, biểu thuế xuất nhập khẩu Việt Nam hiện tại vẫn bị đánh giá là phức tạp, vả lại thay đổi thường xuyên làm cho các doanh nghiệp khó định hướng xuất khẩu dài hạn từ đó dẫn đến việc bị động, chậm trễ mất thời cơ. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện chính sách và cơ chế điều hành xuất nhập khẩu. Trước tình hình đó, quốc hội đã thông qua nhiều văn bản dưới luật, đạo luật tạo hành lang pháp lý cho từng bước hội nhập nền kinh tế quốc tế như: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật phá sản, luật đất đai…ngày 10 tháng 02 năm 1998 thủ tướng chính phủ ra quyết định 31/TTg thành lập Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế do đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm làm chủ tịch, có nhiệm vụ giúp Thủ tướng chỉ đạo, điều hành các bộ ban ngành địa phương trong việc hội nhập kinh tế quốc tế 1. Tính tất yếu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế 10 Trước hết, xét về quan điểm cần nhấn mạnh rằng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hóa kinh tế là hai mặt của một quá trình, sẽ không có quá trình toàn cầu hóa nếu không có sự tham gia của các quốc gia, toàn cầu hóa là xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham gia, quá trình này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh.
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan thì hội nhập kinh tế cũng là một tất yếu khách quan, chính quá trình toàn cầu hóa có ảnh hưởng một cách sâu rộng đến tất cả các quốc gia trên thế giới nhất là quá trình hội nhập kinh tế, có thể cụ thể một số vấn đề sau: - Trước nhu cầu phát triển của các nước yêu cầu phải nắm bắt thời cơ và có khả năng tận dụng một cách tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia trên thế giới đều có xu hướng chuyển sang nền kinh tế mở, đẩy mạnh xu thế tận dụng các điều kiện quốc tế để phát triển. Do vậy, các nước có nền kinh tế tự cấp, tự túc, đóng cửa khép kín cũng bắt buộc phải từng bước điều chỉnh để mở cửa. - Bên cạnh quan hệ song phương, đa phương đóng vai trò quan trọng đã xuất hiện cơ cấu nhiều tầng lớp, tiểu vùng, khu vực, đại khu vực và toàn cầu như: EU, NAFTA, APEC, ASEAN…, liên minh kinh tế và thuế quan Trung Phi, cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi, các tổ chức lớn như WTO, WB, G7… đã mang lại nhiều ưu đãi về thương mại cho các nước tham gia. - Quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra một hệ thống quan hệ quốc tế đan xen làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế.
Tuy nhiên mỗi nước tham gia đều có một lợi ích riêng và đôi khi đối lập nhau.