CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ SỰ CẦN THIẾT THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO TỈNH ĐỒNG NAI 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là từ viết tắt của cụm từ Foreign Direct Investment có nghĩa là đầu tư trực tiếp nước ngoài (hay vốn đầu tư nước ngoài). Vốn FDI là nguồn vốn mà các cá nhân, tổ chức của quốc gia này đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên lãnh thổ của quốc gia khác nhằm mục đích sinh lời hoặc các lợi ích khác cho nhà đầu tư.
Theo quy định của Chính phủ Việt Nam: Cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư nước ngoài ở nước ta là Nghị quyết số 115/CP ngày 18-4-1977 của Thủ tướng ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, kêu gọi đầu tư nước ngoài tại Việt Nam dưới các hình thức khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế, xã hội. Sau đó, Quốc hội thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam tháng 12-1987 và sửa đổi bổ sung vào năm 1990, 1992. Ngày 12-11-1996, Quốc hội đã thông qua luật mới về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo điều 2 của luật này, FDI là “việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Trong Luật Đầu tư ban hành năm 2020, Luật không phân biệt rõ ràng giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp mà gọi chung là đầu tư kinh doanh. Ngoài ra, trong Luật Đầu tư năm 2020 đề cập đến thuật ngữ “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Vậy có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài ở đây là việc nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư để hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế khác; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khác; đầu tư theo hình thức hợp đồng kinh doanh nếu tổ chức kinh tế đó thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh; h 7 b) Có tổ chức kinh tế quy định nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; c) Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Như vậy, có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền hoặc các nguồn lực cần thiết vào các khu vực kinh tế khác không thuộc nền kinh tế của quốc gia nhà đầu tư, trực tiếp tham gia tổ chức, quản lý, điều hành.việc chuyển hóa chúng thành vốn sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận tối đa các nguồn lực cần thiết”.
Trong khái niệm này nguồn vốn bao gồm: tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ). Những đặc điểm đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài Luận án tiến sĩ kinh tế (2020) của nghiên cứu sinh Lê Hùng Sơn, Nghiên cứu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh phát triển mới [tr 32] đã chỉ ra các đặc điểm đặc trưng của vốn FDI sau đây. - Mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư: các nhà đầu tư tham gia điều hành trực tiếp, quản lý và kiểm soát quá trình sử dụng vốn, tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Như vậy, chủ đầu tư sẽ tự quyết định đầu tư, sản xuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng vốn, lãi, lỗ của doanh nghiệp mình, phải thực hiện trách nhiệm nộp ngân sách theo quy định của nước sở tại.
- Tỷ lệ vốn quyết định tỷ lệ phân chia quyền lợi và nghĩa vụ của các nhà đầu tư: Các Chủ đầu tư nước ngoài khi góp vốn vào doanh nghiệp, họ được quyền kiểm soát hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp nhận đầu tư tùy theo tỷ lệ vốn đóng góp trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy theo quy định của pháp luật nước sở tại, mỗi quốc gia có quy định khác nhau về vấn đề này. Vì thế quyền lợi và nghĩa vụ cũng tỷ lệ thuận với số vốn họ đóng góp. - Thu nhập của nhà đầu tư phụ thuộc vào kết quả kinh doanh: Tỷ lệ đóng góp vốn của mỗi bên sẽ quy định quyền và nghĩa vụ của các bên. Đồng thời rủi ro, lợi h 8 nhuận cũng được phân chia theo tỷ lệ này.
Nếu kết quả kinh doanh tốt họ sẽ được chia lợi nhuận cao theo tỷ lệ đóng góp, còn nếu kết quả kinh doanh chưa tốt họ sẽ chịu trách nhiệm thiệt hại lớn, đồng thời có trách nhiệm đi đầu trong thay đổi chiến lược phát triển thúc đẩy sản xuất kinh doanh. - FDI là sự kết hợp giữa quyền sở hữu và quyền quản lý nguồn vốn đã góp: FDI gắn với việc đầu tư sản xuất kinh doanh, vốn đầu tư sẽ được chuyển thành máy móc thiết bị, khoa học công nghệ, nguyên vật liệu. Chính vì vậy, để thu hút được nhà đầu tư nước ngoài, thì các nước nhận đầu tư phải nghiên cứu ban hành các chính sách để tạo ra được môi trường đầu tư tốt, trong đó chính sách pháp luật và ổn định xã hội là vấn đề quan trọng. - FDI có kèm theo chuyển giao công nghệ và dây chuyền sản xuất: Khi đầu tư thì các nhà đầu tư sẽ chuyển giao công nghệ cho bên nhận đầu tư.
Nước nhận đầu tư tiếp cận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý thông qua FDI, đây là đặc điểm rất quan trọng của vốn FDI. Hình thức Theo Luật Đầu tư năm 2020, Quy định các hình thức đầu tư như sau: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; Đầu tư theo hình thức hợp đồng kinh doanh và các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Phương (2022), Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đã chỉ ra ở Việt Nam có các hình thức đầu tư phổ biến sau: (i) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế (100% vốn từ nhà đầu tư nước ngoài): Với hình thức đầu tư này, các nhà đầu tư thường tập trung khai thác những lợi thế của các địa điểm đầu tư mới, áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ, kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận. (ii) Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế là cách đầu tư khác mà các chủ đầu tư có thể triển khai tại nước ta.
Các hình thức góp vốn như là mua cổ phiếu, trái phiếu. Hoặc trực tiếp góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn cũng như h 9 công ty hợp danh. Với hình thức này, nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của công ty mà chỉ nhằm mục đích gia tăng lợi nhuận. Khi thực hiện hình thức đầu tư này, nhà đầu tư cần tuân thủ các quy định của công ty tại nước sở tại.
(iii) Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân mới. (iv) Hình thức hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp đồng đầu tư xây dựng - chuyển giao - vận hành, hợp đồng xây dựng - chuyển giao là các hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước sở tại có thẩm quyền với các nhà đầu tư nước ngoài, để xây dựng công trình hạ tầng cơ sở vật chất trong một thời gian nhất định. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, 2018, tại cuốn Kỷ yếu Hội nghị 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [tr79], đã chỉ ra các vai trò của FDI như sau: Vốn đầu tư từ nước ngoài có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước chúng ta. Trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế Việt Nam đang cần một lượng vốn lớn và công nghệ khoa học kỷ thuật tiên tiến của các nước phát triển trên thế giới để thực hiện CNH-HĐH đất nước, vươn xa thế giới.
Vốn đầu tư từ nước ngoài không chỉ quan trọng với đất nước Việt Nam chúng ta mà còn hết sức quan trọng với các nước đầu tư. Nó giúp các Nhà đầu tư chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm do đặt dự án đầu tư tại nước sở tại, tận dụng nhân công lao động và sử dụng được nguồn nguyên vật liệu tại chỗ. Khi đầu tư ra nước ngoài, các nhà đầu tư tự điều chỉnh công việc kinh doanh cho phù hợp với điều kiện chính trị, phong tục tập quán địa phương để từ đó bằng kinh nghiệm, khả năng vốn có của mình để tiếp cận tốt nhất, đồng thời giúp tiết kiệm chi phí nhân công lao động giá rẻ ngoài ra còn có thể tránh hàng rào thuế quan.1 Tác động tích cực - Thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế h 10 Nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài giúp đất nước chúng ta giải quyết những khó khăn về vốn, khoa học công nghệ, việc làm cho người dân, trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này giúp nền kinh tế tăng trưởng vượt bậc một cách nhanh chóng, giúp chúng ta khắc phục những hạn chế trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Đóng góp vào ngân sách; Thu hút lao động; Nâng cao thu nhập; Tăng khoản thu cho ngân sách nhà nước.