CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 1. Khái quát về hoạt động kinh doanh quốc tế Kinh doanh quốc tế thể hiện các hoạt động giao dịch xảy ra giữa một nước với phần còn lại của thế giới. Những giao dịch này bao gồm hoạt động mậu dịch quốc tế và hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Hiện nay khoảng 500 công ty lớn hàng đầu trên thế giới chiếm khoảng 80% lượng đầu tư nước ngoài và trên 50% tổng giá trị mậu dịch trên toàn thế giới.
Do đó việc nghiên cứu hoạt động kinh doanh quốc tế chủ yếu đặt nặng vào các hoạt động của các công ty kinh doanh quốc tế lớn nêu trên, những công ty này hiện nay thường được gọi là các công ty đa quốc gia (MNCs), những công ty này ra đời và đặt văn phòng chính tại một nơi nhưng tiến hành các hoạt động kinh doanh tại nhiều nơi trên thế giới. Trong những thập kỷ vừa qua các công ty đa quốc gia đã đầu tư hàng tỷ USD ra nước ngoài theo hình thức đầu tư song phương: Hoa Kỳ đầu tư vào Cộng đồng kinh tế Châu Au và ngược lại; Nhật bản đầu tư vào Hoa Kỳ và ngược lại; Canada đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ và ngược lại, ….Tuy trong thời gian gần đây, các công ty đa quốc gia đã chuyển hướng đầu tư vào các nước đang phát triển và những nước đang chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh té thị trường. Ví dụ từ năm 1991-1995, Công ty Volkswagen đã đầu tư 6 tỷ USD vào nhà sản xuất ô tô Skoda của Cộng Hoà Czech; hoặc Opel (Đức) đã đầu tư xây dựng một nhà máy sản xuất ô tô trị giá 680 triệu USD tại Đông Đức. Sự chuyển hướng đầu tư này bắt nguồn từ một số lý do như sau: triển vọng sinh lợi tại những thị trường này cao dù rằng những rủi ro về kinh Luan van 5 tế và chính trị còn lớn; các chương trình tư nhân hóa được tiến hành rông khắp tại các nước Nam Mỹ và đây là một cơ hội cho các công ty đa quốc gia thâm nhập vào khu vực này; mặt khác sự tăng trưởng mạnh mẽ và đầy triển vọng của Nhật bản trong thập niên 80 của thế kỷ 20 đã dẩn đến việc đầu tư vốn ra thị trường nước ngoài Ngoài hiện tượng nêu trên, một hoạt động phổ biên của kỷ nguyên kinh doanh quốc tế ngày nay chính là việc tiến hành các liên doanh quốc tế giữa các MNC với nhau hoặc giữa một MNC với một công ty nội địa.
Ví dụ như công ty GMC đã liên doanh với Toyota để sản xuất xe hơi tại Hoa Kỳ; Ford đã liên doanh Volkswagen để sản xuất xe hơi tại Nam Mỹ; Motorola cùng phối hợp với Toshiba để phát triển và sản xuất một thế hệ chíp điện tử có độ phân giải cao; Nissan và Hitachi đã phối hợp với nhau nhằm tạo ra một “văn phòng di động” qua việc phát triển, sản xuất các loại diện thoại di động, máy fax, tivi, videocassette.Tổng quan về hoạt động kinh doanh quốc tế 1. Hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng không chỉ bao gồm các loại hàng hóa mà còn là các loại dịch vụ trong lĩnh vực hàng không, vận tải, khách sạn… và khuynh hướng ngày nay là khối lượng dịch vụ xuất khẩu này càng gia tăng (một trong những lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của Hoa Kỳ chính là các dịch vụ về giải trí như phim, các chương trình tivi… Xét về phương diện xuất và nhập khẩu, bằng các số liệu của các tổ chức quốc tế trong thập niên 90 (thế kỷ 20), chúng ta nhận thấy rằng có ba cường quốc thương mại quốc tế lớn trên thế giới: Hoa Kỳ, Nhật bản, và Cộng đồng kinh tế Châu Au. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ba cường quốc này chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn thế giới. Nếu xét về chiều hướng mậu dịch thì các quốc gia này chủ yếu xuất nhập khẩu các loại Luan van 6 hàng công nghiệp như máy móc, computer, xe hơi, tivi, và các loại hàng điện tử khác, bên cạnh đó tỷ trọng mậu dịch quốc tế về lĩnh vực mậu dịch ngày càng gia tăng đáng kể.
Việc nghiên cứu các số liệu về xuất nhập khẩu thì rất quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế vì các lý do. Thứ nhất, mậu dịch quốc tế là một lĩnh vực cơ bản và truyền thống của kinh doanh quốc tế và việc nghiên cứu nó sẽ cho phép chúng ta thấu hiểu được thực tiễn hoạt động và chiến lược của các công ty đa quốc gia. Ví dụ, các số liệu về mậu dịch quốc tế trong vòng 10 năm trước đây đã cho chúng ta thấy những đối tác nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ chính là canada, Nhật bản, Mehico, vương quốc Anh, và Đức. Các nước này thường nhập computer, máy móc dùng trong nông trại, máy móc thiết bị sử dụng trong các ngành nghề khác, và hàng điện tử.
Ngược lại Hoa Kỳ nhập khẩu chủ yếu từ các đối tác như Canada, Nhật bản, Mehico, Đức, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa các mặt hàng như xe hơi, giầy dép, hàng điện tử tiêu dùng, phụ tùng thay thế, và đồ trang sức. Các số liệu này cũng cho chúng ta biết rằng 10 đối tác nhập khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ cũng chính là 10 đối tác xuất khẩu lớn nhất, nói cách khác Hoa Kỳ đã mua và bán với một tỷ trọng lớn nhất trong một phạm vi một số ít các quốc gia. Thứ hai, các số liệu về mậu dịch quốc tế cũng giúp cho chúng ta thông hiểu đuợc tác động của hoạt động kinh doanh quốc tế đối với nền kinh tế của một quốc gia. Thật vậy bằng những số liệu này, chúng ta có thể giải thích được các câu hỏi đặt ra như : việc trở thành một nhà xuất khẩu lớn sẽ tác động đến nền kinh tế của một quốc gia như thế nào? Việc lệ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế.
Hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài thể hiện sự dịch chuyển vốn ra hải ngoại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các quốc gia đã Luan van 7 công nghiệp hóa đã đầu tư với một tỷ trọng rất lớn vào các quốc gia đã công nghiệp hóa khác và với một tỷ trọng nhỏ vào các nước kém phát triển, hoặc các nước mới công nghiệp hóa. Các số liệu trong thời gian qua cho thấy phần lớn vốn đầu tư trực tiếp tập trung vào Hoa Kỳ, Cộng đồng Châu Au, và Nhật bản. Ví dụ: vào năm 1990, Hoa kỳ đã tiếp nhận một lượng vốn đầu tư xấp xỉ 1.500 tỷ USD và nó đã đầu tư ra nước ngoài khoảng 1.
Các nhà đầu tư lớn nhất tại Hoa Kỳ vào năm 1992 bao gồm Nhật bản, Anh, Hà Lan, Canada, và Đức; vốn đầu tư của 5 nước này chiếm trên 70% tổng lượng vốn đầu tư mà Hoa Kỳ tiếp nhận. Trong số những nhà đầu tư này, tốc độ đầu tư của Nhật bản là nhanh nhất, tuy nhiên tổng vốn đầu tư của Cộng đồng kinh tế Châu Au (EC) thì lớn gấp 3 lần so với Nhật Bản. Đồng thời Hoa Kỳ cũng là một nhà đầu tư lớn trên thế giới nhưng nó chỉ đầu tư tập trung vào EC, Canada, và Nhật Bản. Khi các quốc gia đã phát triển ngày càng trở nên giàu có hơn, họ thường tiến hành đầu tư tại những khu vực có tiềm năng tăng trưởng.
Chẳng hạn Nhật Bản trong những năm gần đây đã đầu tư rất nhiều vào thị trường của EC, cụ thể trong thập niên 1980 họ đã gia tăng tỷ trọng đầu tư lên gấp 3 lần so với những năm đầu. Trong cơ cấu đầu tư theo ngành thì tỷ trọng đầu tư hàng và bảo hiểm. Một trong những lý do khiến Nhật Bản gia tăng đầu tư tại đây là do họ dự báo rằng sẽ có một sự tăng trưởng lớn của nề kinh tế EC trong thập niên 1990, một lý do khác đó chính là rào cản thuế quan và phi thuế qua tại EC rất chặt chẻ và điều này sẽ đảm bảo một lợi nhuận đáng kể cho các công ty khi đầu tư trực tiếp vào đây. Lý do tiến hành các hoạt động kinh doanh tồn cầu.
Thông thường nhiều người cho rằng các công ty tiến hành quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của nó đều dựa trên một lý do duy nhất đó là việc tìm kiếm và khai thác lợi nhuận từ các cơ hội kinh doanh trên thị trường hải Luan van 8 ngoại. Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều động lực dẩn đến hoạt động quốc tế hoá hoạt động kinh doanh của các công ty. Các động lực này có thể được phân chia thành hai dạng: chủ động và thụ động. Trong từng dạng như vậy người ta còn phân ra thành các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài.Phản ứng chủ động A.
Nhân tố bên trong • Vấn đề quản trị: Có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho một công ty đi vào hoạt động kinh doanh quốc tế đó chính là sự tìm kiếm những thị trường mới để kinh doanh nhằm thỏa mãn những động cơ về quản trị; điều này không chỉ diễn ra đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn mà còn là một động lực quan trọng đối với những doanh nghiệp vừa và nhỏ nơi những người quản lý, đồng thời cũng là người chủ luôn có một tinh thần mạo hiểm, chấp nhận rủi ro của một nhà doanh nghiệp. • Hiệu quả kinh tế theo quy mô: Quá trình mở rộng các hoạt đông kinh doanh quốc tế có lẽ là một con đường nhanh nhất để gia tăng doanh số, và như vậy nó sẽ tác đông đến quy mô sản xuất của đơn vị. Trong một số ngành công nghiệp có tầm quan trọng của hiệu quả kinh tế theo quy mô rất lớn thì việc đạt được điều này sẽ giúp cho công ty hạ thấp phí tổn cho một đơn vị sản phẩm, làm gia tăng khả năng cạnh tranh của công ty không những tại thì trường nội địa mà còn cả ở thị trường hải ngoại. Hiệu quả kinh tế theo quy mô không chỉ diễn ra trong lĩnh vực sản xuất mà còn bao trùm sang những chức năng khác của công ty.
Ví dụ: chi phí nghiên cứu và phát triển phân bổ cho một đơn vị sản phẩm sẽ nhỏ đi, các hoạt động quảng cáo trên tivi có thể sử dụng không chỉ cho một thị trường.