mở đầu - các cặp thoại triển khai - cặp thoại kết thúc,. Tham thoại (participants): Là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Nghiên cứu tham thoại là nghiên cứu phần đóng góp của mỗi người mà theo H. Grice “ở chỗ thích hợp làm sao cho những đóng góp đó phù hợp với phương hướng, mục tiêu của cuộc thoại đặt ra”.
Tham thoại do người nói phát ra, làm cơ sở cho sự xuất hiện tham thoại thứ hai của người đối thoại thì được gọi là tham thoại dẫn nhập. Còn tham thoại có chức năng phản hồi lại tham thoại dẫn nhập thì được gọi là tham thoại hồi đáp. Về cấu tạo, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên. + Tham thoại chỉ có một hành vi ngôn ngữ tạo nên (cũng đồng thời là hành động chính) gọi là tham thoại đơn.
Ví dụ: A: Giang gói bánh đẹp quá! B: Có gì đâu anh. + Tham thoại có từ hai hành vi trở lên gọi là tham thoại phức. Một tham thoại phức gồm có một hành vi chủ hướng (viết tắt CH) và có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (viết tắt PT). Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp lời thích hợp của người đối thoại, còn hành vi phụ thuộc có nhiều chức năng khác nhau.
Cấu trúc của tham thoại phức có thể là: CH PT CH CH PT PT CH PT PT PT CH Cần phân biệt tham thoại với lượt lời. Lượt lời (conversational turn) là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc 16 chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình. Như vậy, lượt lời được tính bởi các phát ngôn do người nói nói ra trong cuộc thoại từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó.
Những người tham gia hội thoại đều có quyền được nói lượt lời, nói phần của mình để đảm bảo nguyên tắc luân phiên lượt lời, như thế, cuộc thoại mới phát triển một cách bình thường. Trong giao tiếp, tham thoại có thể không hoàn toàn trùng khớp với lượt lời. Mỗi lượt lời có thể thể hiện một tham thoại. Ví dụ: A: Hai bác có khỏe không em? B: Cảm ơn anh, bố mẹ em cũng bình thường anh ạ.
Cũng có khi, hai, ba lượt lời mới thể hiện một tham thoại. Ví dụ: A: Chị ơi, anh Văn. B: Anh Văn làm sao? A: Anh ấy bị tai nạn, đang cấp cứu ở bệnh viện. Trong ví dụ trên, hai lượt lời do A nói ra mới làm thành một tham thoại.
Hành động rào đón là một trong những hành động đi kèm hành động chủ hướng, thuộc cấu trúc của tham thoại. Nhưng trong nhiều tình huống giao tiếp, hành động này lại bị tách ra thành một (hoặc nhiều) lượt lời như trong ví dụ sau: A: Em có chuyện ni (này) muốn nói với anh.(ngập ngừng) B: Chuyện chi (gì)? A: Thực sự em cũng không biết bắt đầu từ đâu nựa (nữa), em biết chắc chắn sẽ làm anh thất vọng nhưng em không thể không nói. B: Nhưng mà là chuyện chi (gì)? A: Anh Hùng - người yêu cũ của em hẹn gặp em, và em đã đến gặp anh ấy. Trọng tâm thông báo trong ví dụ trên nằm ở lượt lời thứ ba của A, hai lượt lời trước đó chỉ có tác dụng đưa đẩy, rào đón.
Cả ba lượt lời của A mới làm thành một tham thoại: Em có chuyện ni muốn nói với anh, thực sự em cụng không biết bắt đầu từ đâu nựa, em biết chắc chắn sẽ làm anh thất vọng nhưng em không thể không nói. Anh Hùng - người yêu cũ của em hẹn gặp em, và em đã đến gặp anh ấy. Chúng tôi không chủ trương nghiên cứu hành động rào đón được phát ngôn thành những lượt lời riêng lẻ mà chỉ khảo sát các tham thoại hoàn chỉnh trong một lượt lời, có sự xuất hiện đồng thời cả hành động rào đón và hành động chủ hướng. Hành động ngôn từ (còn gọi là hành vi ngôn ngữ - speech act): Là đơn vị tối thiểu tạo nên tham thoại.
Một tham thoại có thể chỉ có một hành động nhưng cũng có thể lớn hơn một hành động. Các ứng xử bằng lời (và bằng các yếu tố kèm ngôn ngữ) đều căn cứ vào các hành động ngôn từ đi trước. Chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn về hành động ngôn từ ở mục 1. trong chương này của luận án.
Tương tác hội thoại Tương tác là sự tác động vào nhau, cùng làm cho nhau biến đổi. Tương tác hội thoại được hiểu là các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau làm biến đổi lẫn nhau. Nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác (interactants). Họ tác động lẫn nhau về mọi phương diện, quan trọng nhất là tác động đến lời nói của nhau.
Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời. Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa là phương tiện sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến tâm sinh lý của các nhân vật giao tiếp. Các nhân vật tham gia hội thoại là những cá nhân có nhiều sự khác biệt, thậm chí đối lập nhau về văn hóa, nhận thức, tâm lí, tình cảm, nhu cầu, ý muốn, thói quen. Bằng quá trình tương tác hội thoại, những khác biệt này hoặc sẽ giảm đi hoặc sẽ tăng lên, có khi thành xung đột.
Rào đón được xem là một trong những hành động ngôn ngữ góp phần làm cho cuộc tương tác phát triển theo hướng tích cực, tức là góp phần rút ngắn khoảng cách, sự khác biệt nói trên, đồng thời góp phần duy trì và củng cố mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp. Quy tắc hội thoại Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc này không chặt chẽ như những quy tắc ngôn ngữ học thuần túy nhưng đòi hỏi những người tham gia hội thoại phải tôn trọng chúng thì hội thoại mới đạt đích giao tiếp. Các quy tắc hội thoại thường gặp là: quy tắc thương lượng, quy tắc điều hành luân phiên lượt lời, quy tắc điều hành nội dung cuộc thoại, quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân.
Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày về quy tắc hội thoại có liên quan trực tiếp đến đề tài, đó là quy tắc điều hành nội dung cuộc thoại, quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân. Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại: Quy tắc cộng tác (cooperative principle) Quy tắc cộng tác gắn liền với tên tuổi của nhà ngôn ngữ học H. Quy 18 tắc này được tác giả trình bày trong tác phẩm Logic và hội thoại (Logic and Conversation), xuất bản năm 1975. Nội dung của nó được phát biểu như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện, phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh chị đã chấp nhận tham gia vào.
Quy tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức. Mỗi phạm trù đó tương ứng với một “tiểu nguyên tắc” mà Grice sẽ gọi là phương châm (maxim); mỗi phương châm lại gồm một số “tiểu phương châm”: <1> Phương châm về lượng: a. Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có chứa thông tin như nó được đòi hỏi (đối với mục đích hiện hữu của lần trao đổi đó). Không làm cho phần đóng góp của bạn chứa nhiều tin hơn đang đòi hỏi.
<2> Phương châm về chất: Cố gắng làm cho phần đóng góp của bạn là chân thực. Không nói điều mà bạn tin là không chân thực. Không nói điều mà bạn không chứng minh thỏa đáng được. <3> Phương châm về quan hệ: Phải trọng yếu (quan hệ một cách cần thiết với việc dùng, không chệch ra ngoài đề tài đang nói, hay chỉ nói những gì là trọng yếu, quan yếu).
<4> Phương châm về cách thức: Cần nói sao cho rõ ràng, tránh diễn đạt tối nghĩa, tránh mơ hồ và phải nói theo một trình tự hợp lí. Quy tắc cộng tác gắn với bốn phương châm hội thoại của Grice được xem như một căn cứ để định giá mức độ cộng tác của nhân vật tham gia giao tiếp, đánh giá độ liên kết trong cuộc thoại hoặc căn cứ để kết luận cuộc thoại đó thành công hay thất bại, chuẩn mực hay không chuẩn mực. Tuy nhiên, nguyên tắc cộng tác dường như chỉ có tác dụng đối với những cuộc thoại mà mục đích là truyền báo thông tin miêu tả, tức là những nội dung được đánh giá theo tiêu chí đúng - sai logic. Nó không thể giải thích động cơ vận hành của những cơ chế tạo ra nội dung và đích liên cá nhân - là những nội dung không thể đánh giá theo tiêu chí đúng sai được.
Trong thực tế giao tiếp, không phải với mọi cuộc thoại, các phương châm đó đều được tuân thủ một cách nghiêm túc. Sự phá vỡ một (hoặc hơn một) trong bốn phương châm đó được coi là một trong những cơ sở tạo ra nghĩa hàm ẩn. Việc vi 19 phạm một cách cố ý các phương châm hội thoại của Grice để tạo ra nghĩa hàm ẩn hay nhằm mục đích khác sẽ không được người nói nói ra hoặc đưa ra các dấu hiệu chỉ dẫn sự vi phạm. Do đó, phải gắn phát ngôn với hoàn cảnh giao tiếp, với mối quan hệ liên cá nhân diễn ra trong tiền ngôn cảnh giữa người nói - người nghe mới đoán được sự vi phạm/ không vi phạm nguyên tắc cộng tác trên.
Điều đáng nói ở đây là sự vi phạm một cách cố ý này nằm trong giới hạn cho phép và được sự chấp thuận vô điều kiện của những người tham gia hội thoại. Ngược lại, khi người nói không chủ định tạo ra hàm ý hội thoại nhưng lại ý thức rõ phát ngôn của mình có nguy cơ vi phạm một trong các quy tắc đó, người nói thường sử dụng các biểu thức rào đón như một dấu hiệu chỉ dẫn, lưu ý cho người nghe biết rõ về sự vi phạm đó. Các quy tắc cộng tác hội thoại của H. Grice, do đó, đã được nhiều nhà nghiên cứu vận dụng làm cơ sở để giải thích cho sự tồn tại và hoạt động của các yếu tố rào đón trong phát ngôn.