Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm Gone with the wind và bản dịch Cuốn theo chiều gió” do nghiên cứu sinh Trần Thị Kim Tuyến thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2016), thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ (mã số: 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đỗ Thị Kim Liên và PGS. Lê Đình Tường.

Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, từ ngữ xưng hô đóng vai trò định vị vai giao tiếp, xác lập vị thế xã hội, biểu đạt thái độ, tâm lý và tình cảm giữa các nhân vật tham gia hội thoại. Hệ thống từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt có đặc tính đa dạng, phong phú về số lượng từ vựng và biến chuyển linh hoạt theo từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể; cùng một vai giao tiếp có thể hoán chuyển nhiều phương tiện xưng hô khác nhau để biểu thị các sắc thái tình cảm tinh tế. Ngược lại, tiếng Anh sử dụng phổ biến hệ thống đại từ nhân xưng mang tính chất trung hòa về mặt biểu cảm, số lượng từ loại hạn chế hơn và không trực tiếp phản ánh thứ bậc thân tộc vào các mối quan hệ xã hội như tiếng Việt. Trong thực tiễn chuyển dịch văn học và hoạt động dạy - học ngoại ngữ, sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa này tạo ra rào cản lớn, khiến người học và dịch giả thường gặp khó khăn hoặc mắc lỗi khi lựa chọn các đơn vị xưng hô tương đương. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là chưa có công trình nào khảo sát, đối chiếu một cách có hệ thống sự chuyển dịch từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật từ một tác phẩm văn học cụ thể bằng tiếng Anh (Gone with the wind) sang bản dịch tiếng Việt (Cuốn theo chiều gió) dưới góc độ ngữ dụng và văn hóa.

Mục đích nghiên cứu của luận án bao gồm ba nội dung:

  1. Xác định các mối quan hệ liên cá nhân cơ bản và các từ ngữ xưng hô tương ứng với các mối quan hệ liên cá nhân này trong tác phẩm gốc tiếng Anh Gone with the wind.
  2. Tìm ra những điểm tương đương và không tương đương trong việc biểu đạt quan hệ liên cá nhân ở bản gốc tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió.
  3. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học và hoạt động chuyển dịch giữa hai ngôn ngữ Anh - Việt.

Để đạt được mục đích trên, luận án đặt ra bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  • a. Thống kê, phân loại hệ thống từ ngữ xưng hô (xét trên phương diện cái biểu đạt và cái được biểu đạt qua quan hệ liên cá nhân của các nhân vật tham gia giao tiếp) được sử dụng qua lời thoại hai chiều xưng - gọi trong tác phẩm Gone with the wind của Margaret Mitchell và bản dịch Cuốn theo chiều gió của Vũ Kim Thư.
  • b. So sánh, tổng hợp các từ ngữ xưng hô trong hai văn bản nhằm xác định những điểm giống nhau và khác nhau về số lượng, sự thay đổi từ ngữ xưng hô theo sắc thái tình cảm, tâm lý, văn hóa và các mối quan hệ liên cá nhân trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
  • c. Xác định nét tương đồng và khác biệt về cách sử dụng từ ngữ xưng hô với các loại mô hình quan hệ liên cá nhân được biểu đạt bằng đại từ nhân xưng, danh từ dùng để xưng hô, biểu thức dùng để xưng hô và dạng từ ngữ xưng hô bị tỉnh lược trong giao tiếp ở bản gốc và bản dịch.
  • d. Ứng dụng kết quả nghiên cứu thể hiện qua các mô hình quan hệ liên cá nhân vào hoạt động dạy - học và hoạt động chuyển dịch Anh - Việt.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đơn vị từ ngữ xưng hô được sử dụng trong giao tiếp ở các ngữ cảnh qua lời thoại nhân vật. Phạm vi ngữ liệu khảo sát gồm 435 cuộc hội thoại trích từ tác phẩm gốc tiếng Anh Gone with the wind của Margaret Mitchell (bản tái bản năm 2005, Nhà xuất bản Macmillan) và bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió của dịch giả Vũ Kim Thư (năm 2009, Nhà xuất bản Thời Đại), đồng thời có đối chiếu so sánh với bản dịch của Dương Tường (năm 1987) và Lê Công Thành (năm 1990). Phạm vi không gian và thời gian nghệ thuật của tác phẩm gắn liền với bối cảnh bang Georgia và thành phố Atlanta (miền Nam Hoa Kỳ) trong thời kỳ nội chiến và thời kỳ tái thiết.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề từ ngữ xưng hô đã được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau:

Trong nghiên cứu tiếng Anh và đối chiếu ngôn ngữ quốc tế:

  • Brown và Ford (1961) phân tích từ xưng hô trong hội thoại tiếng Anh - Mỹ qua ba dạng: tên hoặc họ để xưng gọi, danh xưng, và từ xưng gọi người vắng mặt dưới tác động của yếu tố tâm lý xã hội.
  • Hanning (1968) tiếp cận cách sử dụng từ xưng hô trong văn hóa học thời trung cổ.
  • Lou Quangquinh (1985) nghiên cứu các quy tắc gọi tên dưới tác động của văn hóa và xã hội.
  • Braun (1988) nghiên cứu mô hình đa ngôn ngữ và đa văn hóa trong sử dụng từ xưng hô.
  • Thái Duy Bảo (1988) trong Đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh - Việt chỉ ra tính chất bắt buộc và truyền thống của các đại từ nhân xưng I, we, you trong đối thoại tiếng Anh; các đại từ này xuất hiện trong mọi tình huống giao tiếp, mang sắc thái trung hòa, không chứa đựng phạm trù lịch sự phức tạp như tiếng Việt.
  • Hwang (1990) phân tích điểm tương đồng và dị biệt giữa văn hóa Hàn Quốc và văn hóa Mỹ trong sử dụng từ xưng hô.
  • Dickey (1997) khảo cứu mối quan hệ giữa việc dùng tên người, từ ngữ xưng hô và điểm quy chiếu theo hướng ngữ dụng học.
  • Sanae Tsuda (1999) so sánh vị trí của từ xưng hô trong tiếng Anh (thường đặt ở cuối câu) và tiếng Nhật (thường đặt ở đầu câu).
  • Chunming Gao (2003) đối chiếu từ xưng hô Hán - Anh dựa trên bốn phương diện: tên gọi, danh từ thân tộc, chức danh và đại từ nhân xưng.
  • Bull và Fetzer (2006) khảo cứu chiến lược sử dụng từ xưng hô trong các cuộc phỏng vấn công chức lãnh đạo.
  • Chunli Yang (2010), Xiaomei Yang (2010), Parrott (2010), Qian Chen (2010), Cornelia Ilie (2010), Prihantoro (2012), Abdul Khalik (2014) lần lượt khảo sát từ xưng hô trong dịch thuật Anh - Trung, trong văn bản nghị viện Thụy Điển - Anh, trong đối chiếu tiếng Nga - Anh, cũng như trong các tác phẩm điện ảnh (Invictus, Hitch).

Trong nghiên cứu tiếng Việt:

  • Alexandre de Rhodes (1651) trong Từ điển Việt - Bồ Đào Nha - La tinh ghi nhận đại từ nhân xưng và các danh từ thân tộc có chức năng xưng hô (ông, bà, chú, bác, cậu).
  • Trương Vĩnh Ký (1884) trong Grammaire de la langue annamite xây dựng bảng đại từ nhân xưng tiếng Việt chi tiết.
  • Trần Trọng Kim (1940) trong Việt Nam văn phạm khảo sát lớp từ xưng hô dưới tên gọi đại danh từ.
  • M. Emeneau (1951) trong Studies in Vietnamese Grammar phân chia đại từ nhân xưng đích thực và đại từ cương vị (danh từ thân tộc kết hợp với các, phân biệt với đại từ kết hợp với chúng).
  • Thompson (1965) trong Vietnamese Grammar phân tích các cấp độ biểu cảm của đại từ nhân xưng (hắn, người ta) và các nhân tố chi phối xưng hô.
  • Nguyễn Kim Thản (1963) và Nguyễn Tài Cẩn (1975) phân tích chức năng trỏ, chức năng thay thế và khả năng đại từ hóa lâm thời của danh từ thân tộc, họ tên, danh từ chỉ giới tính và danh từ chức nghiệp.
  • Đỗ Hữu Châu (1981, 1999, 2000) nghiên cứu chức năng chiếu vật, chỉ xuất nhân xưng, lý thuyết hội thoại và nguyên tắc "xưng khiêm hô tôn".
  • Nguyễn Văn Chiến (1991, 1992, 1993) phân loại xưng hô "tương ứng chính xác" và "tương ứng không chính xác", đồng thời phân tích phương thức gọi thay ngôi.
  • Mai Xuân Huy (1993, 2003), Đỗ Thị Kim Liên (1999, 2005), Hoàng Kim Ngọc, Bùi Minh Yến, Nguyễn Văn Nở (2000), Trương Thị Diễm (2001, 2003, 2012), Dương Thị Nụ, Mai Thị Kiều Phượng, Trương Thị Minh Phương (2012), Vũ Minh Hiền (2013), Lã Thị Thanh Mai (2014) khảo sát xưng hô trong gia đình, học đường, cộng đồng tôn giáo và đối chiếu Việt - Nhật, Việt - Hàn.

Vị trí của luận án: Kế thừa các thành tựu lý thuyết về ngữ dụng học và đối chiếu ngôn ngữ, luận án là công trình chuyên biệt khảo sát sự chuyển dịch hệ thống từ ngữ xưng hô trong tác phẩm cụ thể Gone with the wind sang bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió, làm rõ cơ chế chuyển dịch từ loại, sự biến đổi ngữ nghĩa - ngữ dụng và ảnh hưởng của các nhân tố văn hóa đối với việc tái lập quan hệ liên cá nhân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm và phạm trù ngôn ngữ học sau:

  1. Khái niệm từ ngữ xưng hô: Là những đơn vị ngôn ngữ được người tham gia giao tiếp sử dụng để tự quy chiếu (xưng) và quy chiếu vào đối tượng tiếp nhận (gọi/hô) hoặc người được nhắc đến, nhằm định vị vai giao tiếp, thiết lập quan hệ liên nhân và biểu lộ thái độ, tình cảm. Hệ thống này bao gồm hai nhóm chính: đại từ nhân xưng (ĐTNX) chuyên dùng và danh từ dùng để xưng hô (DTXH) được đại từ hóa lâm thời (họ và tên, danh từ thân tộc, danh từ chức nghiệp, danh từ chỉ tình cảm, danh từ chỉ giới tính, danh từ chỉ sự lịch sự, danh từ vật hóa) cùng các biểu thức dùng để xưng hô (BTXH).

  2. Ba chức năng cơ bản của từ ngữ xưng hô:

  • Chức năng định vị (Deixis): Xác định vị trí của các nhân vật trong không gian, thời gian và vai giao tiếp (ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba). Trong tiếng Việt, định vị xưng hô gồm hai phương thức: lấy mình làm trung tâm và lấy người khác làm trung tâm (gọi thay ngôi).
  • Chức năng chiếu vật (Reference): Xác lập sự tương ứng giữa đơn vị ngôn ngữ với sự vật, con người được đề cập trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể thông qua hệ quy chiếu.
  • Chức năng thể hiện quan hệ liên nhân (Interpersonal relationship): Phản ánh tương quan xã hội và tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp trên hai trục: trục tung (trục quyền uy/vị thế xã hội, thể hiện quan hệ dọc phi đối xứng) và trục hoành (trục thân cận/khoảng cách xã hội, thể hiện quan hệ ngang đối xứng). Luận án phân định 7 nhóm quan hệ liên nhân: quan hệ thân thiết (yêu đương, vợ chồng, kính trọng), quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, quan hệ thù địch/hận thù, quan hệ hàng xóm, quan hệ kinh doanh (chủ - thợ, đối tác, khách hàng), và quan hệ xã giao.
  1. Lý thuyết dịch thuật và tính tương đương: Hoạt động chuyển dịch là quá trình tìm kiếm sự tương đương giữa văn bản nguồn và văn bản đích. Theo quan điểm ngữ dụng của Lê Đình Tường, tương đương xưng hô thể hiện mối quan hệ giữa cái biểu đạt (signifier - hình thức từ ngữ) và cái được biểu đạt (signified - quan hệ liên nhân trong ngữ cảnh). Quá trình chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt có thể diễn ra dưới các dạng: hoàn toàn tương ứng, tương ứng một phần, hoặc không tương ứng. Bên cạnh việc chuyển dịch tương đương, dịch giả áp dụng thao tác chêm xen/thêm vào (insertion) và thao tác tỉnh lược (ellipsis) để phù hợp với quy chuẩn ngữ pháp và văn hóa tiếng Việt.
Bảng 1.1: Các đại từ nhân xưng và các biến thể trong tiếng Anh
Đại từ nhân xưng Số ít Số nhiều
Ngôi thứ nhất (first person) I (me) We (us)
Ngôi thứ hai (second person) You You
Ngôi thứ ba (third person) He (him), She (her), It They (them)
Bảng 1.2: Các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt
Ngôi Số ít Số nhiều
Ngôi thứ nhất Tôi, tớ, tao, ta, người ta... Chúng tôi, bọn tớ, bọn tao, chúng ta...
Ngôi thứ hai Mày, mi, ngươi... Bọn mày, bọn mi, các ngươi...
Ngôi thứ ba Hắn, y, nó, gã, thị, ả... Chúng, chúng nó, họ, bọn họ...

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê số lượng, tần suất xuất hiện của các đại từ nhân xưng, danh từ xưng hô, biểu thức xưng hô và các dạng thức tỉnh lược qua 435 cuộc thoại; phân chia thành các nhóm và tiểu nhóm chức năng.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Miêu tả tính tương ứng từ bản gốc sang bản dịch dựa trên ngữ cảnh giao tiếp, ngữ nghĩa của lời, hệ quy chiếu và đích giao tiếp, kết hợp lý giải các nhân tố văn hóa - xã hội.
  • Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu cách thức sử dụng từ ngữ xưng hô theo vai giao tiếp và chức năng ngữ dụng giữa tiếng Anh và tiếng Việt nhằm chỉ ra điểm tương đồng và dị biệt.
  • Thủ pháp mô hình hóa và hệ thống hóa: Thiết lập mô hình quan hệ liên cá nhân để trực quan hóa quá trình chuyển dịch cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác lập cơ sở lý thuyết của đề tài về ba chức năng của từ ngữ xưng hô (định vị, chiếu vật, thể hiện quan hệ liên nhân) và các phạm trù dịch thuật liên quan (tính tương đương, sự can thiệp của yếu tố văn hóa, thao tác thêm vào và tỉnh lược). Chương này đồng thời giới thiệu khái quát bối cảnh xã hội miền Nam Hoa Kỳ trong tác phẩm Gone with the wind và các đặc điểm văn phong của bản dịch Cuốn theo chiều gió do Vũ Kim Thư thực hiện.

Chương 2: Đại từ nhân xưng qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió

Chương 2 tập trung khảo sát 15.600 lượt sử dụng đại từ nhân xưng tiếng Anh trong 435 cuộc thoại và phân tích các hình thức chuyển dịch tương đương sang bản dịch tiếng Việt.

Bảng 2.1: Kết quả tổng hợp về hình thức chuyển dịch các đại từ nhân xưng qua lời thoại nhân vật từ [I] sang [II]
Ngôi giao tiếp trong tiếng Anh [I] Số lượt [I] Chuyển thành DTXH ở [II] Chuyển thành ĐTNX ở [II] Tỉnh lược ở [II] Chuyển thành BTXH ở [II]
Ngôi thứ nhất (I, me, we, us) 6.845 1.014 4.014 1.634 183
Ngôi thứ hai (you) 4.959 3.484 143 1.178 154
Ngôi thứ ba (he, him, she, her, they, them) 3.796 1.331 1.200 915 350
Tổng cộng 15.600 5.829 5.357 3.727 687
Tỷ lệ phần trăm 100% 37,4% 34,3% 23,9% 4,4%

Các phát hiện trọng tâm của chương gồm:

  • Trong bản gốc [I], đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất xuất hiện nhiều nhất (6.845 lượt), tiếp đến là ngôi thứ hai (4.959 lượt) và ngôi thứ ba (3.796 lượt), tạo thành cặp thoại xưng - gọi chủ đạo I - you.
  • Khi chuyển sang bản dịch tiếng Việt [II], chỉ có 5.357 lượt được dịch bằng ĐTNX (chiếm 34,3%). Hình thức chuyển dịch thành DTXH chiếm tỷ lệ cao nhất với 5.829 lượt (37,4%), hình thức tỉnh lược đạt 3.727 lượt (23,9%) và hình thức BTXH chiếm 687 lượt (4,4%).
  • Sự chuyển dịch có sự phân hóa rõ rệt theo ngôi:
    • Ngôi thứ nhất: Xu hướng giữ lại ĐTNX chiếm ưu thế (4.014 lượt), phản ánh tính tự quy chiếu của người nói.
    • Ngôi thứ hai: ĐTNX you hầu như bị triệt tiêu dạng ĐTNX khi dịch sang tiếng Việt (chỉ có 143 lượt giữ dạng ĐTNX), thay vào đó chuyển dịch áp đảo thành DTXH (3.484 lượt) và tỉnh lược (1.178 lượt). Điều này bắt nguồn từ tính chất ngữ dụng tiếng Việt: người nghe phải được định vị cụ thể qua quan hệ thân tộc, tuổi tác, địa vị xã hội hoặc họ tên.
    • Ngôi thứ ba: Tỷ lệ phân bố tương đối đồng đều giữa DTXH (1.331 lượt) và ĐTNX (1.200 lượt).
  • Việc tỉnh lược đại từ nhân xưng trong tiếng Việt xuất phát từ yêu cầu tự nhiên hóa câu văn, tránh lặp từ, hoặc thể hiện vị thế quyền uy của nhân vật bậc trên, cũng như bộc lộ thái độ giận dữ hoặc thân mật.

Chương 3: Danh từ dùng để xưng hô qua lời thoại nhân vật trong bản gốc Gone with the wind và những đơn vị tương đương trong bản dịch Cuốn theo chiều gió

Chương 3 khảo sát cơ chế chuyển dịch các tiểu nhóm danh từ xưng hô từ bản gốc sang bản dịch:

  • Họ và tên: Trong bản gốc, họ và tên (Scarlett O’Hara, Rhett Butler, Ashley Wilkes, Melanie...) chỉ dùng để gọi ở ngôi thứ hai (chào hỏi, hô ngữ) hoặc nhắc đến ở ngôi thứ ba. Khi chuyển sang tiếng Việt, tên riêng còn được sử dụng linh hoạt để tự xưng ở ngôi thứ nhất.
  • Danh từ thân tộc: Các từ như Pa, Ma, daughter... được chuyển dịch tương đương hoặc mở rộng sang hệ thống thân tộc tiếng Việt phức định (cha, mẹ, con, anh, em, cô, chú, bác...).
  • Danh từ chỉ tình cảm: Các từ darling, honey, sweetheart... được chuyển dịch thành các từ ngữ biểu cảm tương đương trong tiếng Việt (em yêu, anh yêu, cưng...).
  • Danh từ chỉ sự lịch sự: Các từ sir, gentleman, lady, ma'am... chuyển thành các từ xưng hô tôn kính (thưa ngài, thưa ông, quý bà, quý cô...).
  • Danh từ chỉ giới tính và danh từ vật hóa: Các từ boy, girl, man... hoặc các từ mang tính ẩn dụ/nhân hóa như puss, pet, goose... được chuyển dịch linh hoạt tùy theo sắc thái thân mật hay châm biếm.
  • Danh từ chức nghiệp và cấp bậc: Các danh xưng Doctor, General Beauregard... được chuyển dịch trực tiếp thành chức danh kết hợp tên (Bác sĩ, Tướng Beauregard...).
  • Hiện tượng thêm vào danh từ xưng hô và biểu thức xưng hô: Bản dịch tiếng Việt xuất hiện nhiều lượt thêm vào DTXH và BTXH không có trong nguyên tác nhằm làm rõ vai giao tiếp và sắc thái tình cảm theo chuẩn mực giao tiếp tiếng Việt.

Chương 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạt động dạy - học và dịch các đơn vị từ ngữ xưng hô

Chương 4 tổng kết các mô hình quan hệ liên cá nhân và đề xuất các giải pháp thực tiễn:

  • Mô hình hóa quan hệ liên cá nhân: Xác lập cơ chế đối chiếu giữa cái biểu đạt (tiếng Anh) và cái được biểu đạt (tiếng Việt) dựa trên 7 nhóm quan hệ liên nhân.
  • Quy luật nhận diện và chuyển dịch: Xây dựng quy trình phân tích ngữ cảnh, xác định vị thế xã hội và khoảng cách thân cận của nhân vật trước khi lựa chọn từ ngữ xưng hô tương đương.
  • Ứng dụng trong dịch thuật: Đề xuất nguyên tắc kết hợp giữa tính trung thành ngữ nghĩa và tính linh hoạt ngữ dụng, sử dụng hiệu quả kỹ thuật chêm xen và tỉnh lược để đảm bảo tính tự nhiên và thẩm mỹ của ngôn bản dịch.
  • Ứng dụng trong dạy - học: Đề xuất phương pháp giảng dạy từ xưng hô gắn liền với bối cảnh văn hóa - xã hội; giúp người học tiếng Anh nhận biết tính trung hòa của đại từ nhân xưng tiếng Anh và giúp người nước ngoài học tiếng Việt nắm vững quy tắc sử dụng danh từ thân tộc trong xưng hô xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Luận án cung cấp hệ thống cứ liệu thực chứng về tính tương đương ngữ dụng trong chuyển dịch từ ngữ xưng hô giữa hai ngôn ngữ khác cội nguồn loại hình và văn hóa (tiếng Anh - ngôn ngữ hòa kết, văn hóa phương Tây; tiếng Việt - ngôn ngữ đơn lập, văn hóa phương Đông).
  • Vận dụng và cụ thể hóa lý thuyết quan hệ liên cá nhân của Đỗ Hữu Châu và quan điểm tương đương biểu đạt của Lê Đình Tường, xác lập mô hình phân tích từ ngữ xưng hô dựa trên hai trục vị thế xã hội (trục tung) và khoảng cách thân cận (trục hoành).
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Thống kê toàn diện và phân loại định lượng 15.600 lượt đại từ nhân xưng và hệ thống danh từ xưng hô qua 435 cuộc thoại trong tác phẩm Gone with the wind và bản dịch tiếng Việt.
  • Chỉ ra quy luật chuyển đổi từ loại: 37,4% đại từ nhân xưng tiếng Anh chuyển thành danh từ xưng hô tiếng Việt và 23,9% bị tỉnh lược.
  • Đề xuất các khuyến nghị cụ thể cho hoạt động dịch thuật văn học và hoạt động giảng dạy ngoại ngữ (tiếng Anh cho người Việt và tiếng Việt cho người nước ngoài).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu trong một tác phẩm văn học nghệ thuật cụ thể (Gone with the wind) và bản dịch của Vũ Kim Thư (có so sánh bổ trợ bản dịch Dương Tường, Lê Công Thành). Đối tượng khảo sát giới hạn trong lời thoại nhân vật phản ánh xã hội miền Nam Hoa Kỳ thế kỷ XIX.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát trên các thể loại văn bản khác (diễn ngôn báo chí, diễn ngôn chính trị, phim ảnh, giao tiếp đời thường) hoặc đối chiếu các tác phẩm văn học đương đại để kiểm chứng và hoàn thiện mô hình tương đương xưng hô.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngữ dụng học và Dịch thuật học.
    • Dịch giả văn học và người làm công tác biên dịch Anh - Việt.
    • Giáo viên giảng dạy tiếng Anh và giáo viên dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng số liệu thống kê chi tiết về tần suất và hình thức chuyển dịch đại từ nhân xưng ở Chương 2.
    • Phân loại chức năng ngữ dụng của các tiểu nhóm danh từ xưng hô ở Chương 3.
    • Mô hình quan hệ liên cá nhân và quy trình nhận diện từ ngữ xưng hô phục vụ giảng dạy, dịch thuật ở Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Trong bản gốc Gone with the wind, đại từ nhân xưng nào xuất hiện nhiều nhất và khi dịch sang bản tiếng Việt Cuốn theo chiều gió có sự thay đổi như thế nào? Trong bản gốc, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (I, me, we, us) xuất hiện nhiều nhất với 6.845 lượt trên tổng số 15.600 lượt khảo sát. Khi chuyển sang bản dịch tiếng Việt, các đại từ ngôi thứ nhất được chuyển dịch thành 4.014 ĐTNX, 1.014 DTXH, 1.634 trường hợp tỉnh lược và 183 BTXH.

  2. Tại sao đại từ nhân xưng ngôi thứ hai "you" (4.959 lượt) trong bản gốc lại chuyển dịch chủ yếu thành danh từ dùng để xưng hô (3.484 lượt) trong tiếng Việt? Tiếng Anh sử dụng đại từ nhân xưng you mang tính trung hòa cho mọi đối tượng tiếp nhận giao tiếp. Ngược lại, tiếng Việt quy định người nghe phải được định vị cụ thể theo tuổi tác, giới tính, cương vị xã hội, quan hệ thân tộc hoặc mức độ lịch sự; do đó bản dịch tiếng Việt chuyển đổi 3.484 lượt sang danh từ dùng để xưng hô và chỉ giữ lại 143 lượt ở dạng đại từ nhân xưng.

  3. Luận án phân tích ngữ cảnh gặp gỡ ban đầu giữa Scarlett O’Hara và Rhett Butler trong bản dịch của Vũ Kim Thư và Dương Tường ra sao? Trong cuộc thoại trích dẫn ở Chương 2, khi Rhett xuất hiện sau khi nghe lén Scarlett và Ashley, bản Vũ Kim Thư dịch Scarlett xưng gọi: "Thưa ông, đáng lẽ ông phải cho biết...", Rhett đáp: "chính cô mới là kẻ quấy rầy. Tôi phải buộc lòng..."; bản Dương Tường dịch Scarlett: "Thưa ông, lẽ ra từ nãy ông phải lên tiếng...", Rhett đáp: "chính cô mới là kẻ đột nhập. Tôi phải buộc lòng...". Luận án nhận định trong ngữ cảnh Scarlett là thiếu nữ quý tộc đang tức giận và Rhett là người lạ thuộc giới thượng lưu, việc dịch thành "Thưa ngài" và sử dụng từ xưng hô phù hợp sẽ phản ánh chính xác quan hệ xã giao ban đầu.

  4. Tỷ lệ các hình thức chuyển dịch từ 15.600 lượt đại từ nhân xưng tiếng Anh sang tiếng Việt được phân bổ như thế nào? Tổng số 15.600 lượt đại từ nhân xưng tiếng Anh khi chuyển sang bản dịch tiếng Việt được phân bố thành bốn hình thức: danh từ dùng để xưng hô đạt 5.829 lượt (37,4%), đại từ nhân xưng đạt 5.357 lượt (34,3%), hình thức tỉnh lược đạt 3.727 lượt (23,9%) và biểu thức dùng để xưng hô đạt 687 lượt (4,4%).

  5. Các phương pháp nghiên cứu chính được tác giả sử dụng trong luận án gồm những phương pháp nào? Tác giả sử dụng phương pháp thống kê - phân loại (khảo sát 15.600 lượt ĐTNX và các tiểu nhóm DTXH trong 435 cuộc thoại), phương pháp phân tích diễn ngôn (phân tích ngữ nghĩa, hệ quy chiếu và đích giao tiếp), phương pháp so sánh (đối chiếu điểm tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ), kết hợp với thủ pháp mô hình hóa và hệ thống hóa quan hệ liên cá nhân.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Kim Tuyến là công trình nghiên cứu đối chiếu hệ thống từ ngữ xưng hô qua lời thoại nhân vật giữa tác phẩm gốc tiếng Anh Gone with the wind và bản dịch tiếng Việt Cuốn theo chiều gió. Dựa trên việc khảo sát 435 cuộc thoại và 15.600 lượt đại từ nhân xưng, tác giả đã làm rõ quy luật chuyển đổi từ loại, trong đó danh từ xưng hô (37,4%) và hình thức tỉnh lược (23,9%) chiếm tỷ lệ đáng kể khi chuyển dịch sang tiếng Việt. Công trình đã mô hình hóa quan hệ liên cá nhân trên hai trục vị thế xã hội và khoảng cách thân cận, chứng minh vai trò quyết định của các yếu tố ngữ dụng và văn hóa trong việc lựa chọn từ ngữ xưng hô. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn phục vụ trực tiếp cho hoạt động dịch thuật văn học cũng như công tác giảng dạy ngoại ngữ Anh - Việt.