Chương 1: Lý Luận chung về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đại lý, hệ thống đại lý trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng phát triển hệ thống đại lý kinh doanh của công ty TNHH BHNT Dai IChi Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển hệ thống dai lý kinh doanh của công ty BHNT. CHUONG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE HOAT DONG KINH DOANH BAO HIEM, DAI LY, HE THONG DAI LY TRONG HOAT DONG KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. Hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân tho 1. Khái niệm về Bảo hiểm nhân thọ và hoạt động kinh doanh Bảo hiểm Sự ra đời của Bảo hiểm nhân thọ xuất phát từ nhu cầu con người phát sinh trong cuộc sống hằng ngày.
Họ mong muốn một biện pháp có thé đảm bảo cuộc sông của gia đình mình, kể từ khi còn trẻ đến khi về già hay ngay cả khi ho qua đời. Bảo hiểm xuất hiện nhằm đáp ứng nhu cầu khách quan của con người và đã ra đời từ rất lâu trên thế giới.Bland — Tổng giám đốc viện Bảo hiểm hoàng gia Anh: “Các đơn bảo hiểm nhân thọ căn cứ vào đời sông của một người cụ thé, người đó được bảo hiểm và được thanh toán khi người đó chết”. Có thé hiểu một cách đơn giản theo khái niệm này, BHNT chỉ phát huy tác dụng thanh toán khi người được bảo hiểm tử vong. Vì vậy, khái niệm này mang phạm vi khá hẹp nên chưa được sử dụng rộng rãi.
Theo khoản 13, điều 4 luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 ra ngày 16/6/2022: “Bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”. Khái niệm này với phạm vi bao quát hơn và được sử dụng khá phô biến. Theo khoản 2, điều 4 luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15 ra ngày 16/6/2022: “Kinh doanh Bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, chỉ nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm, chỉ nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh Bảo hiểm nhân thọ Đối tượng kinh doanh bảo hiểm nhân thọ chính là tuổi thọ hoặc tính mạng con người.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn, bao gồm: phí điều lệ, phí bảo hiểm thu được, lãi đầu tư,. Trong đó, vốn điều lệ phải bang mức vốn pháp định do pháp luật quy định. Vốn pháp định lớn như vậy bắt nguồn từ đặc thù của ngành kinh doanh bảo hiểm — kinh doanh rủi ro. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn có dự phòng nghiệp vụ lớn.
Doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm từ phí bảo hiểm trong từng nghiệp vụ dựa trên phần trách nhiệm giữu lại của doanh nghiệp do kinh doanh bảo hiểm có sự tích lũy rủi ro. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư. Day là hoạt động góp phan phát triển quỹ tài chính, đồng thời tạo điều kiện dé mở rộng quy mô cho doanh nghiệp, tăng quỹ phúc lợi cũng như chính thu nhập của người lao động. Điều này góp phần thúc đây mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội.
Theo quy định của pháp luật, các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh cần tuân thủ theo các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, các quy định pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Đại lý và vai trò của hệ thống đại lý 1. Khái niệm về đại lý và hệ thống dai lý Trên thị trường ,việc những thỏa thuận về giá cả, số lượng, mẫu mã, điều kiện thanh toán,. giữa người bán và người mua hoặc ngược lại được biết đến là loại hình giao dịch trực tiếp.
Bên cạnh đó, loại hình giao dịch trung gian đến thời điểm hiện tại đang ở mức đô pho bién rộng rãi. Chúng được hiểu rằng mọi việc kiến lập quan hệ giữa người mua và bán cùng các điều kiện mua bán đều qua một bên thứ ba hay còn gọi là các trung gian thương mại, phô biến như các đại lý và môi giới. Day chính là những thành viên trong kênh phân phối. Thông qua họ, hàng hóa được cung cấp tới người tiêu dung kèm theo các dịch vụ gia tăng khác.
Việc tận dụng kênh phân phối giúp khắc phục những vấn đề nan giản lâu ngày về mặt địa lý, thời gian, văn hóa và quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ giữa những người có nhu cầu sử dụng. Nhằm đảm bảo việc tiêu dung hàng hóa diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả. Vậy, thế nào là đại lý kinh doanh? Ong Philip Kolter — một nhà Marketing nổi tiếng đã từng đặt ra câu hỏi: “Tại sao người sản xuất lại san sàng chuyển giao một phan công việc tiêu thụ sản phầm cho những người trung gian? Điều đó đồng nghĩa các nhà sản xuất sẽ mất đi quyền kiểm soát đối với việc người ta bán hàng cho ai, theo phương thức nào?” Sau cùng, ông đã lý giải cho điều này đó là do những trung gian, bao gồm đại lý và các nhà môi giới, những người có khả năng cao nhất đảm vảo việc phân phối hàng hóa và đưa hàng hóa tới các thị trường mục tiêu. Ông cho rằng: “Đại lý là cấp trung gian, có thể đại diện cho bên bán hoặc bên mua giúp cho công việc mua bán của hai bên được diễn ra thuận lợi nhất có thé.
Qua đó, họ sẽ nhận được một khoản phí hoa trồng trên giá tiêu thụ. Kênh phân phối trong đó có các đại lý, là một tập hợp các công ty hay cá nhân tự gách vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng.” Một số quan niệm từ các nhà kinh tế học khác nói rằng: “đại lý là tư nhân hoặc pháp nhân tiến hành một hay nhiều hành vi theo sự ủy thác của người ủy quyền.” Theo điều 166 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 nêu rõ: “Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dich vụ của bên giao đại lý cho khách hang dé hưởng thù lao.” Theo khái niệm này, hoạt động trung gian thương mại cần thực hiện trên cơ sở thỏa thuận của cả hai bên (bên giao đại lý và bên đại lý), trong đó: Bên giao đại lý là các thương nhân giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoajtc thương nhận ủy quyền thực hiện dịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ (khoản 1 điều 167 Luật thương mại). Như vậy, bên giao đại lý là người cân bán hàng, cân cung ứng dịch vụ hoặc cân mua hàng. Bên đại lý là các thương nhân nhận hàng hóa dé làm dai lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là nhận ủy quyền cung ứng dich vụ.
Nói cách khác, bên đại lý là người trung gian kết nối cung — cầu hàng hóa dịch vụ, là trung gian giữa bên cần bán hàng, cần cung ứng dịch vụ với khách hàng hoặc giữa người cần mua với nhà cung câp. Nói tóm lại, đại lý là trung gian của mối quan hệ - một bên bằng danh nghĩa của chính mình (bên đại lý) thực hiện một hoặc một số công việc theo sự ủy thác của bên kia (bên giao đại lý) dé nhận thù lao. Từ đó, hệ thống địai lý của doanh nghiệp chính là tập hợp các đại lý của doanh nghiệp, cùng tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa tới nơi tiêu dung từ nhà sản xuất (hoặc tổ chức nguon). Tất cả các đại lý này đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đóng vai trò là người trung gian.
Vi vậy, họ có thé được hưởng những quyền lợi và có nghĩa vụ như nhau hoặc khác nhau tùy thuộc vào loại hình đại lý. Vai trò của đại lý và hệ thống đại lý Trong thời đại công nghệ hóa — hiện đại hóa, nhu cầu của con người ngày càng nâng cao. Đặc biệt, đối với các sản phẩm hàng hóa, van dé chất lượng khi đưa ra thị trường cần được đảm bảo hơn bao giờ hết. Bởi chúng quyết định tới hiệu quả tiêu thụ và sử dung hàng hóa — những nhân tốt quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Do vậy, các hình thức phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng đóng vai trò quan trọng và là vấn đề cần được quan tâm trong doanh nghiệp. Cụ thê, vai trò của đại lý bao gồm: e Rút ngắn khoảng cách về địa lý, không gian, thời gian: Thông thường, các nhà sản xuất thường tập trung nguồn lực cho sự chuyên môn hóa mô hình hoặc tập trung về mặt địa lý. Tuy nhiên, khách hàng lại phân tán ở khắp mọi nơi kèm theo nhu cầu đa dạng hóa. Từ đó, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng mục tiêu, yêu cầu rút ngăn khoảng cách địa lý trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Chính các trung gian này sẽ dự trữ hàng hóa và thay mặt cho các nhà sản xuất cung cấp sản phẩm tới khách hàng. e Tăng doanh thu bán hàng: Trong quá trình sản xuất, việc sử dụng công nghệ hiện đại cùng các thách thức tổ chức quản lý khoa học, doanh nghiệp sẽ nhanh chóng tăng hiệu quả sản xuất và thành công ở khâu này. Số lượng và chất lượng có thé được đảm bao. Tuy nhiên, nếu kênh phân phối không thực hiện tốt, chắc chắn doanh thu bán hang sẽ không đủ dé tạo ra nguồn tiền chi trả cho chi phí sản xuất.
Dẫn đến những ach tắc trong kinh doanh và có thé dẫn đến bờ vực pha sản. Vì vậy, phân phối hàng hóa một cách hiệu quả mới có thé thu được nhiều tiền hàng dé chi trả những chi phi trong các khâu của quá trình sản xuất. Ngoài ra, khách hàng không chi thông qua các đại lý mà hoàn toàn có thé mua hàng hóa trực tiếp tại các công ty. Vi vậy, dé cạnh tranh thành công, họ không phải chỉ cung cấp sản phẩm, dịch vụ tốt mà còn phải chuẩn bị mọi thứ luôn ở trạng thái san sang.