CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIEN DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của chiến lược doanh nghiệp 1. Khái niệm cơ bản về chiến lược Theo Hoàng Văn Hải (2010), thuật ngữ "Chiến lược" đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự, là sự kết hợp của từ "chiến" nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ "lược" nghĩa là mưu, tính. Vậy theo nguyên gốc "Chiến lược" là những mưu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng.
Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược như là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bồ các nguồn lực cần thiết dé thực hiện mục tiêu. Năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thé được cố kết một cách chặt chẽ. Johnson và Scholes (1999) đã định nghĩa chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dải hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tô chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan. Như vậy có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chiến lược.
Tuy nhiên, dù tiếp cận theo cách nảo thì bản chất thuật ngữ chiến lược cũng được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất là: (i) Xác lập mục tiêu dai han của doanh nghiệp; (ii) Đưa ra các chương trình hành động tổng quát; (iii) Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực đề thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.8] Hệ thống chiến lược ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia; chiến lược phát triển các ngành và lĩnh vực; chiến lược phát triển các lãnh thổ: chiến lược của tổ chức/doanh nghiệp. Đặc trưng của chiễn lược Mặc dù có nhiêu quan điêm và cách tiêp cận khác nhau vê phạm trù chiên 15 lược; tuy nhiên các đặc trưng cơ bản của chiến lược trong kinh doanh được quan niệm tương đối thống nhất. Các đặc trưng cụ thê như sau: Thứ nhất, chiên lược xác định rõ những mục tiêu cơ bản, phương hướng kinh doanh cần đạt tới trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động quản trị của doanh nghiệp. Thứ hai, chiến lược phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
Thứ ba, chién lược được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa và kết hợp tốt với việc khai thác và sử dụng các nguồn lực, năng lực cốt lõi của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế, nắm bắt cơ hội dé giành ưu thé trong cạnh tranh. Thứ tr, chién lược được phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dung đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược. Thứ năm, chién lược luôn mang tư tưởng chủ động giành thang lợi trong cạnh tranh. Thứ sáu, mọi quyết định quan trọng trong quá trình xây dựng tô chức thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chiến lược đều được tập trung vào nhóm quản tri viên cấp cao dé dam bảo tính chuẩn xác của các quyết định dai hạn, sự bí mật thông tin trong cạnh tranh.
Vai trò của chiến lược Lịch sử kinh doanh trên thế giới và Việt Nam đã chứng kiến không ít người gia nhập thương trường kinh doanh từ số vốn ít ỏi nhưng họ vẫn nhanh chóng thành đạt và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác nhờ có được chiến lược kinh doanh đúng'. Điều đó chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của chiến lược đối với quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Một số vai trò của chiến lược được thể hiện trên các khía cạnh sau: ' Vi dụ điển hình: Vua sông nước Bạch Thái Bưởi với chiến lược đa dạng hóa đã phát triển kinh doanh dé trở thành Vua sông nước với số lượng tàu của công ty ông lên đến 40 tàu, với số lượng nhân viên lên tới 2500 người; nhờ tầm nhìn và những nỗ lực của mình, năm 1945 Ông trở thành Vua mỏ nước Việt để cạnh tranh với các công ty của Pháp [6, tr. 16 Thứ nhất, chiên lược giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích hướng đi của mình trong tương lai, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ hai, chiến lược giúp cho doanh nghiệp năm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường. Thứ ba, chiến lược góp phan nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực cốt lõi, tăng cường vị thé của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Thứ tw, chién lược tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp dé ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường cũng như các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển đào tạo bồi dưỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trường và phát triển sản pham. Nội dung của quản trị chiến lược Theo Hoàng Văn Hải (2010), quản trị chiến lược là hệ thống các quyết định hành động nhằm dat được thành công lâu dai của tổ chức.
Các quyết định và hành động gắn kết với nhau thành hệ thống hướng tới mục tiêu thành công lâu dài, bền vững. Chính vì vậy, quản tri chiến lược sẽ đặt các nhà quản tri trước sự lựa chon giữa thành tích ngắn hạn với thành công dài hạn, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Quan tri chiến lược là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn - Hệ thống quản tri doanh nghiệp, gan chat voi quan tri tac nghiép va quan tri rui ro. Quan tri chién luoc được phân chia thành ba giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau là hoạch định chiến lược, thực thi chiến lược và kiểm soát chiến lược.
Giai đoạn hoạch định chiến lược bao gồm xây dựng, phát triển sứ mệnh; thiết lập các mục tiêu chiến lược; xác định các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh điểm yêu của doanh nghiệp; nghiên cứu các giải pháp chiến lược và lựa chọn giải pháp chiến lược thích hợp dé theo đuổi. Hoạch định chiến lược nhằm phác thảo tương lai mà doanh nghiệp cần đạt tới đồng thời vạch ra các con đường đạt tới tương lai đó. Giai đoạn thực thi chiến lược bao gồm các khâu tái cau trúc tổ chức phù hợp với chiến lược; phân bổ ngôn lực chiến lược; thiết lập hệ thống trợ lực và khuyến 17 khích thực thi chiến lược: cải biến văn hóa theo chiến lược; lãnh đạo thực thi chiến lược. Thực thi chiến lược chính là việc biến những dự tính chiến lược của tổ chức thành hành động và kết quả; trong đó các nhà quản trị trở thành những người thực thi chiến lược trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của họ và tất cả nhân viên là những người tham gia.
Kiểm soát chiến lược nhằm đưa ra các điều chỉnh cần thiết để có thể giữ đúng định hướng chiến lược, đảm bảo chiến lược được thực thi đến cùng và tạo ra thành công thực sự. Nó bao gồm các nội dung như kiểm soát chiến lược đã hoạch định, kiểm soát quá trình thực thi chiến lược. Quản trị chiến lược trong doanh nghiệp được tiễn hành ở ba cấp độ: cấp công ty; cấp đơn vị kinh doanh và cấp chức năng. Theo đó các nhà quản trị chiến lược được phân công chuyên môn hóa theo các cấp độ tương ứng như Hội đồng quản trị, tổng giám đốc điều hành và giám đốc điều hành cao cấp ở phạm vi doanh nghiệp có nhiệm vụ co bản và thẩm quyền cá nhân trong việc quyết định những chiến lược lớn có ảnh hưởng đến toàn bộ doanh nghiệp; giám đốc các đơn vị kinh doanh (SBU) có trách nhiệm về quản trị chiến lược trong đơn vị kinh doanh; giám đốc các bộ phận chức năng có trách nhiệm quản trị các chiến lược chức năng.
Việc phân cấp trong quản trị chiến lược giúp phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp nhưng vẫn luôn đảm bảo tính xuyên suốt và nhất quan cua chién luoc. Các chiến lược phát triển điển hình 1. Chiến lược đa dạng hóa Các hình thức đa dạng hóa Có ba hình thức đa dạng hóa là đa dạng hóa theo chiều ngang, đa dạng hóa đồng tâm (da dạng hóa có liên quan) và đa dang hóa kết khối (đa dạng hóa không liên quan). Đa dạng hóa chiều ngang là chiến lược tăng trưởng bằng cách hướng vào thị trường hiện tại với những sản phẩm mới mà về mặt công nghệ không liên quan đến các sản phâm hiện tại.
Chiến lược này cho phép công ty kiểm soát cạnh tranh, làm giảm áp lực cạnh tranh. Chiến lược này đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp thị 18 trường người tiêu dùng đang suy giảm, nó cho phép công ty đạt vị trí thống trị trong ngành. Đa dạng hóa đồng tâm là sự đa dạng hóa vào hoạt động kinh doanh mới mà nó được liên kết với hoạt động kinh doanh hiện tại của công ty bởi tính tương đồng giữa một hoặc nhiều bộ phận của chuỗi giá trị của mỗi hoạt động. Sự đa dạng hóa kết khối là sự đa dạng hóa vào lĩnh vực kinh doanh mới mà nó hiển nhiên không có sự kết nối với bất kỳ lĩnh vực kinh doanh hiện có nào của công ty.
Tao giá trị qua việc da dang hóa Đề da dang hóa, các công ty nên cân nhắc khi các nguồn tài chính vượt quá sự cần thiết dé duy trì một lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh ban đầu hoặc chủ chốt và làm thế nào dé đầu tư nguồn tài chính dư thừa giúp tạo ra giá trị. Một công ty đa dạng hóa có thé tạo ra giá trị theo 3 cách: (i) Mua lại và tái cấu trúc; (ii) chuyển giao năng lực; (iii) quy mô kinh tế. Mua lại và tái câu trúc được thực hiện khi giả định rằng một công ty được quản tri có hiệu qua có thể tạo ra giá tri bang việc mua lai các công ty quan tri kém và nâng cao tính hiệu quả của chúng. Các công ty mà chiến lược da dạng hóa dựa trên việc chuyển giao năng lực, tìm kiếm công việc kinh doanh mới liên quan đến công việc kinh doanh hiện có băng một hay nhiều hơn chức năng tạo giá trị.