CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. Một số khái niệm về chiến lược: Trong lĩnh vực quân sự, cả Đông lẫn Tây, các luận thuyết cổ điển về chiến lược đều phân rõ ba mức độ: Chính trị, Chiến lược và Chiến thuật. Chính trị đề ra mục tiêu, Chiến lược lo phần tổng hợp tất cả các lực lượng về mặt tổng thể để đạt được mục tiêu đó và Chiến thuật thì ứng phó với tình hình thực tiễn tại chỗ. Khái niệm chiến lược, khởi nguyên thoát thai từ lĩnh vực quân sự, bao gồm chủ yếu ba nội dung là “nơi đánh, cách đánh và phương tiện để đánh” nhằm đạt được mục đích tối cao đã đề ra thì tính chất cơ bản của chiến lược chính là việc hoạch định đường đi để đến hướng đã vạch ra.
Do đó, việc hoạch định chiến lược phát triển cho doanh nghiệp có ba vấn đề cốt lõi phải giải quyết: Lĩnh vực, phương pháp và phương tiện. Nói cách khác, doanh nghiệp trước tiên phải trả lời cho chính mình được ba vấn đề: - Doanh nghiệp làm nghề gì và trong lĩnh vực nào? - Để thành công ở lĩnh vực đó, doanh nghiệp cần làm chủ những năng lực lõi và tay nghề chuyên môn nào? Năng lực lõi: là tất cả các kiến thức, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm cơ bản cho hoạt động của doanh nghiệp và mang đến cho doanh nghiệp tính đặc thù riêng biệt. Tay nghề chuyên môn: là tất cả những kiến thức, công nghệ, kỹ năng và kinh nghiệm để vận hành doanh nghiệp trên cơ sở phát huy cái lõi có tính đặc thù của doanh nghiệp. Để có được và nhằm phát huy tối đa hiệu năng của những năng lực lõi và tay nghề đó, doanh nghiệp phải tổ chức việc phân bổ các nguồn lực như thế nào? Nói tóm lại, theo cách hiểu ngắn gọn của tôi, chiến lược là một giải pháp lớn để đạt được mục tiêu dài hạn của công ty, doanh nghiệp.
Chiến lược đề ra phải xác định được phạm vi kinh doanh để tập trung phát triển nguồn lực, tạo cho doanh nghiệp một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh, giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển và quan trọng nhất phải được kết hợp với độ chín muồi của thời cơ và phù hợp với các điều 5 6 kiện của môi trường bên ngoài, nếu không, sẽ khó thực hiện được mục tiêu. Khái quát về marketing trong nền kinh tế thị trường 1. Những khái niệm cốt lõi của marketing Có nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ chức lực lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra.
Marketing là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó. Cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.
Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Khái niệm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái niệm này được minh hoạ trong sơ đồ sau: Nhu Giá Trao Marketing cầu, Sản trị, chi đổi, giao Thị và người mong phẩm phí và dịch và trường làm muốn sự hài các mối marketing và yêu lòng quan hệ cầu Sơ đồ 1.1: Những khái niệm cơ bản của marketing Một cách khái quát, marketing có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Quản trị marketing Quản trị marketing là quá trình lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, định giá, khuyến mãi, phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu khách hàng và tổ chức. Định nghĩa này thừa nhận quản trị marketing là một quá trình bao gồm việc phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát. Nó liên quan đến sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng, và dựa trên ý niệm về trao đổi, mục đích của nó là tạo ra sự thỏa mãn cho các bên hữu quan. Quản trị marketing về thực chất là quản trị nhu cầu có khả năng thanh toán.
Quan điểm marketing xuất phát từ thị trường được xác định rõ ràng, tập trung vào những nhu cầu của khách hàng, phối hợp tất cả những hoạt động nào có tác động đến khách hàng và tạo ra lợi nhuận thông qua việc đảm bảo sự thoả mãn cho khách hàng. Thị trường mục tiêu Không một công ty nào có thể hoạt động trên mọi thị trường và thoả mãn được mọi nhu cầu. Nó không thể hoạt động tốt thậm chí chỉ trong phạm vi một thị trường rộng lớn, ngay cả IBM hùng mạnh như vậy cũng không thể đảm bảo được giải pháp tốt nhất cho mọi nhu cầu xử lý thông tin. Các công ty chỉ có thể đạt được kết quả tốt nhất khi họ xác định một cách thận trọng thị trường mục tiêu của mình rồi chuẩn bị một chương trình marketing phù hợp.
Nhu cầu của khách hàng Một công ty có thể được xác định được thị trường mục tiêu của mình nhưng lại hoàn toàn không hiểu được hết những nhu cầu của khách hàng. Nói chung một công ty có thể đáp ứng được những đòi hỏi của khách hàng bằng cách đưa cho họ những gì mà họ mong muốn, hay họ cần, hay họ thực sự cần. Mỗi mức sau đòi hỏi phải thăm dò thấu đáo hơn mức trước, nhưng kết quả cuối cùng phải được nhiều khách hàng tán thưởng hơn. Điểm mấu chốt của marketing chuyên nghiệp là phải thoả mãn những nhu cầu thực tế của khách hàng một cách tốt hơn đối thủ cạnh tranh.
Marketing phối hợp (marketing – mix) Marketing phối hợp có hai nội dung. Thứ nhất là các chức năng marketing khác nhau, như lực lượng bán hàng, quảng cáo, quản lý sản phẩm, nghiên cứu marketing. phải được phối hợp với nhau. Rất hay xảy ra tình trạng lực lượng bán 7 8 hàng phải điên đầu vì những người quản lý sản phẩm để đề ra “giá quá cao” hay “chỉ tiêu khối lượng quá lớn, hay giám đốc quảng cáo và người quản lý nhãn hiệu không thể nhất trí với nhau về một chiến dịch quảng cáo tốt nhất cho nhãn hiệu đó”.
Những chức năng marketing này phải được phối hợp với nhau theo quan điểm của khách hàng. Thứ hai là, marketing phải được phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác nhau trong công ty. Vì thế, quan điểm marketing đòi hỏi công ty phải tiến hành marketing đối nội cũng như đối ngoại. Marketing đối nội là tuyển dụng, huấn luyện và động viên có kết quả những nhân viên có năng lực, muốn phục vụ khách hàng chu đáo.
Trong thực tế, marketing đối nội phải đi trước marketing đối ngoại. Việc hứa hẹn bảo đảm dịch vụ tuyệt hảo sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu đội ngũ nhân viên hay “khách hàng nội bộ” không có động lực làm việc và phục vụ khách hàng. Khả năng sinh lời Mục đích của quan điểm marketing là giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình. Trong trường hợp các công ty tư nhân thì mục đích chính là lợi nhuận.
Còn trong trường hợp các tổ chức phi lợi nhuận và xã hội thì mục tiêu là tồn tại và huy động đủ tiền để thực hiện công tác của mình. Ở đây vấn đề mấu chốt là Công ty có được lợi nhuận bằng cách thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng tốt hơn các đối thủ cạnh tranh. Các công ty thực sự theo quan điểm marketing đều tập trung vào khách hàng và được tổ chức để có thể đáp ứng một cách có hiệu quả những nhu cầu luôn thay đổi của khách hàng. Họ không chỉ tổ chức bộ phận marketing với đội ngũ nhân viên giỏi, mà còn đảm bảo được tất cả những bộ phận khác, như sản xuất, tài chính, nghiên cứu và phát triển, nhân sự, cung ứng, đều theo đúng quan điểm “khách hàng là vua”.
Các tổ chức này đều có một nề nếp marketing bắt rễ sâu vào tất cả các bộ phận và chi nhánh của mình. Qui trình xác lập chiến lược marketing 1. Đánh giá cơ hội thị trường 1. Môi trường nhân khẩu Nhân khẩu là yếu tố đầu tiên quan trọng mà bất kỳ nhà quản trị Marketing nào cũng phải quan tâm.
Vì nhân khẩu tạo ra khách hàng cho Công ty. Nhân khẩu hay dân số tác động tới hoạt động Marketing của Công ty chủ yếu trên các phương diện sau: 8 9 + Quy mô tốc độ tăng dân số là khía cạnh quan trọng tác động tới quy mô nhu cầu. Tuy nhiên, đối với từng sản phẩm cụ thể, tương quan đó không phải bao giờ cũng ăn khớp tuyệt đối. Tốc độ đô thị hoá là cơ hội cho ngành kinh doanh mặt hàng tiêu dùng như nông sản thực phẩm phát triển.
+ Cơ cấu dân số có tác động rất lớn đến nhu cầu hàng hoá, dịch vụ cụ thể và đến đặc tính nhu cầu. Môi trường kinh tế Thị trường cần có sức mua và công chúng. Sức mua hiện có trong một nền kinh tế phụ thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, lượng, tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng có thể vay tiền. Những người làm Marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hướng chủ yếu trong thu nhập và các kiểu chi tiêu của người tiêu dùng.
Môi trường này cũng bao gồm chỉ số tăng trưởng GDP, lạm phát… 1. Môi trường chính trị, luật pháp Có thể nói môi trường chính trị ổn định của Việt Nam là một trong những bảo đảm tối đa của quá trình hội nhập, mở cửa. Những nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn cho hoạt động của Công ty. Vì luật pháp đó là hệ thống luật, văn bản dưới luật như thông tư, chỉ thị, quyết định, nghị quyết, các văn bản hướng dẫn chính sách, các quy định của địa phương, của ngành.
Tất cả tạo ra một môi trường hợp lý, hành lang pháp lý. Mọi công ty được hoạt động trong khuôn khổ đó.