CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE CHUNG VE XUẤT KHẨU KHẨU TRANG SANG THI TRUONG MY. Các quy định về nhập khẩu của Mỹ. Khi xuất khâu một hàng hóa sang Mỹ, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định và yêu cầu của Cục Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP). CBP sẽ có trách nhiệm chính trong việc kiểm soát thương mại quốc tế, thu thuế nhập khẩu, và thực thi pháp luật thương mại của Mỹ.
Tất cả các mặt hàng được nhập vào Mỹ phải thông quan CBP và phải chịu thuế, trừ khi được miễn rõ ràng theo quy định của pháp luật. Quy định về thủ tục nhập khẩu: Khi hang hóa đến Mỹ, nhà xuất khẩu (hoặc dai lý hải quan tại cửa khẩu nhập cảnh mà doanh nghiệp thuê) sẽ phải sắp xếp việc thông quan tại CBP. Người xuất sẽ phải nộp giấy tờ thông quan cho giám đốc cảng, cùng các giấy tờ cần thiết trong vòng 15 ngày kế từ ngày hàng hóa đến cảng nhập, bao gồm: — Bảng kê khai nhập cảnh. — Bằng chứng về quyên nhập cảnh.
— Hóa đơn thương mại (nếu không thé có hóa đơn thương mại, phải trình hóa đơn chiếu lệ). — Danh sách đóng gói. — Các tài liệu khác cần thiết dé xác định kha năng chấp nhận hàng hóa. Bên cạnh các giấy tờ cần thiết, tắt cả các hàng nhập khẩu phải kèm theo một trái phiếu dé đảm bao đã thanh toán tất cả các khoản thuế, phí hoặc lệ phí liên quan đến nhập khẩu.
Các nhà nhập khẩu có thể mua trái phiếu thông qua công ty bảo lãnh tại Mỹ hoặc công ty môi giới hải quan mà nhà nhà xuất khẩu đã chọn. Có hai loại trái phiếu bao gồm: — Trái phiếu hàng năm: Đây là loại trái phiếu phổ biến nhất và hiệu quả về chi phí vì nó bao gồm tat cả hàng nhập khẩu trong một năm. Một trái phiếu với số tiền 50,000 USD sẽ có giá từ 400 USD đến 450 USD. — Trái phiếu nhập một lần: Trái phiếu nhập một lần thường được sử dụng nhất khi các nhà nhập khẩu không có nhu cầu về việc thu lại được lợi nhuận theo năm và có giá khoảng 5% giá trị lô hàng.
Sau khi nộp đơn nhập cảnh, CBP có quyền kiểm tra. Việc kiểm tra này được thực hiện hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng nếu là lần đầu doanh nghiệp xuất khâu sang My, thì khả năng cao sẽ bị kiểm tra. Nếu không có vi phạm pháp luật hoặc quy định nào được phát hiện, lô hàng sẽ được giải phóng. CBP sẽ kiểm tra để xác nhận những điều sau: ~ Trị giá hàng hoá dé xác định tình trạng tính thuế của chúng.
- Hàng hóa có tuân thủ quy định về ghi nhãn hiệu hay không. - Lô hàng có chứa các mặt hàng bị cắm hay không. — Hàng hóa có được lập hóa đơn hợp lý hay không. - Liệu số lượng có khớp với những gi đã khai báo hay không.
- Lô hàng có chứa chất ma tuý hay không. Moi chi phí sẽ được nhà nhập khâu thanh toán trực tiếp, hoặc thông qua bên môi giới hải quan mà doanh nghiệp đã chọn. Nếu nhà nhập khâu chưa muốn sử dụng hàng ngay, một lô hàng có thé được đưa vào kho ngoại quan của CBP. Hang hóa có thé được lưu giữ trong kho ngoại quan đến 5 năm ké từ ngày nhập khẩu và hàng hóa có thê được rút ra bất kỳ lúc nào nếu nhà nhập khẩu nộp thuế theo quy định.
Tuy nhiên, các mặt hàng dễ hư hỏng, chất nổ, hoặc hàng cam sẽ không được phép lưu trữ trong kho ngoại quan CBP. Đối với việc đóng gói, sẽ dễ dàng hơn cho các nhân viên của CBP khi kiểm tra lô hàng của doanh nghiệp nếu chúng được sắp xếp một cách có hệ thống. CBP gợi ý cho các nhà nhập khâu đối với việc đóng gói hàng hóa như sau: — Lập hóa đơn hàng hóa một cách có hệ thống, — Hiên thị số lượng chính xác của từng mặt hàng trong mỗi hộp, kiện, thùng hoặc gói. — Đánh dấu và số trên mỗi gói.
— Hiển thị những dấu hoặc số đó trên hóa đơn, khớp với số hiệu được ghi trên các kiện hàng đó. Việc sắp xếp và đóng gói hàng hóa hợp lý và logic sẽ giúp cho việc kiêm kê hàng trở nên nhanh chóng, tránh nhằm lẫn. Quy định về nhãn hiệu và xuất xứ hàng hóa: Xuất xứ hàng hóa sẽ được thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm, giấy tờ liên quan đến hàng hóa và phải hoàn toàn chính xác. Xuất xứ hàng hóa được xác định là quốc gia cuối cùng mà sản phẩm được sản xuất, trước khi được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Sẽ có những mặt hàng của một vài quốc gia bị áp hạn ngạch hoặc bị cam hoàn toàn khi xuất khâu sang Mỹ. Hơn thế nữa, biểu thuế của mỗi sản phâm thuộc các quốc gia khác nhau sẽ khác nhau. Chính vì thế mà việc xác định xuất xứ là vô cùng quan trọng. CBP sẽ kiểm tra cả xuất xứ hàng hóa của các lô hàng khi xuất sang Mỹ.
Luật hải quan của Mỹ có quy định mọi hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ ngoại quốc, phải ghi rõ ràng, không tây xoá được, ở chỗ dễ nhìn thấy trên bao bì của hàng hóa đó những thông tin về tên người mua cudi cùng ở Mỹ, tên bằng tiếng Anh nước xuất xứ hàng hoá đó. Các nhãn hiệu phải được đăng ký tại Cục Hải quan Mỹ và lưu giữ theo quy định nhập khâu của Mỹ. Hàng hóa mang nhãn hiệu giả, bị sao chép bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của một công ty Mỹ hay một công ty nước ngoài đã đăng bản quyền đều bị cắm nhập khẩu vào Mỹ. Bên cạnh đó, nhà xuất khẩu sẽ bị xử lý vi phạm như sau: — Hàng nhập vào Mỹ không tuân thủ quy định về nhãn hiệu hàng hóa sẽ bi phạt mức 10% giá trị lô hàng và phải thực hiện thêm một số yêu cầu nữa.
— Hàng hóa không đáp ứng nhu cầu về nhãn mác, nhãn mác giả, sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền sẽ phải được nhà nhập khâu thu xếp tái xuất trở lại nơi xuất khâu hoặc hủy toàn bộ lô hàng hoặc nếu hàng hóa được xác định là bỏ, chính phủ có quyền tước đoạt toàn bộ hoặc một phan lô hàng. — Người cố tình vi phạm có thé bị phạt 5000 USD hoặc bỏ tu dưới 1 năm. — Trong trường hợp nếu nhà nhập khẩu có phối hợp với bên nước ngoài để tây xóa nhãn mác về xuất xứ hàng hóa thì sẽ bị phạt 100.000 USD cho lần đầu và 250.000 USD cho các lần vi phạm sau đó. Quy định về chất lượng hàng hóa: Tùy vào mỗi loại hàng hóa sẽ có những quy định riêng về tiêu chuẩn chất lượng của chúng.
Vì vậy bên cạnh các giấy tờ cơ bản dé nhập khâu vào Mỹ, các chúng loại hàng hóa này phải có giấy chứng nhận, kiểm nghiệm của các cơ quan chính phủ liên qun đến ngành đó. Dưới đây là những loại hàng hóa cần đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng mà do các cơ quan tại Mỹ yêu cầu: — Dược phẩm: được Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) kiểm soát chặt chẽ và có nhiều yêu cầu về chất lượng, dán nhãn, đóng gói và cơ sở sản xuất (kế cả thanh tra cơ sở sản xuất). Các sản phẩm liên quan đến dược phẩm, y tế phải có được giấy chứng nhận của FDA. — Thức uống có cồn: được Cục Kiểm soát Rượu, Thuốc lá, Vũ khí và Chất nỗ kiểm soát chặt chẽ.
Bên cạnh việc kiểm soát về chất lượng, nhãn hiệu, đóng gói, xuất xứ, các mặt hàng này phải tuân thủ các quy định của liên bang, tiểu bang và địa phương về rượu, phải đóng thuế nhập khẩu liên bang khi nhập hàng. — Thịt, các sản phẩm gia cầm và trứng: chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Bộ Nông nghiệp Mỹ (US Department of Agriculture - USDA). Nhà xuất khẩu phải nộp đơn xin nhập khâu hàng hóa vào Mỹ và phải được chấp thuận. — Hải sản: được kiểm soát chặt chẽ bởi FDA, kết hợp với Cơ quan Cá biển quốc gia của Mỹ (National Marine Fisheries Service - NOAA Fisheries) và Cơ quan Quản lý về Cá và Động vật hoang dã Mỹ (United States Fish and Wildlife Service - FWS).
Một số loài hải sản bị đánh thuế chống bán phá giá. Một vài nước bị đặt hạn ngạch hoặc bị cắm xuất khẩu hoàn toàn hải sản vào Mỹ. — Động vật sông: được kiểm soát bởi Cơ quan Y tế Cộng đồng Mỹ (US Public Health Service - PHS), Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (Centers for Disease Control and Prevention - CDC), FWS, USDA, và FDA, tùy vào từng loài động vật. Ngoài việc kiểm dịch, thông báo xác nhận trước, giấy phép, chứng từ, và đáp ứng các yêu cầu khác theo từng loài động vật, nhà xuất khâu còn phải đối mặt với các giới hạn và yêu cầu riêng của tiêu bang.
— Thực phẩm làm sẵn: chịu sự kiểm tra của FDA và phải phụ thuộc vào các quy định nghiêm ngặt của FDA về chất lượng, các thành phần trong sản phẩm, nhãn mác, đóng gói. — Cac sản phâm điện: các sản phẩm điện phải được chấp thuận bởi Phòng Thử nghiệm được công nhận của quốc gia (Nationally Recognized Testing Laboratory - NRTL). Các tô chức như FDA và Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ (Federal Communication Commission - FCC) cũng ban hành một vài quy định cụ thé cho một số sản phẩm điện. Bên cạnh các vấn đề về thủ tục nhập hàng, nhãn mac, xuất xứ, chất lượng, những nhà nhập khẩu phải chú ý đến vấn đề về lệ phí và thuế.
Tùy từng quốc gia và mặt hàng khác nhau, mà lệ phí và biểu thuế áp dụng sẽ hoàn toàn khác nhau. Điều này phụ thuộc vào hiệp định thương mại và chính sách giữa Mỹ và nước đó. Các quy định riêng về nhập khẩu khẩu trang của Mỹ. Việc nhập khâu khẩu trang y tế vào Mỹ được CBP quản lý.
Giống như các sản phẩm khác, việc nhập khẩu khẩu trang y tế thường yêu cầu: nộp các chứng từ nhập khẩu; thanh toán các khoản thuế ước tính; kiểm tra và giải phóng hàng hóa từ Hải quan. Khẩu trang y tế là hàng hóa thuộc nhómy tế, chính vì thế phải chịu sự kiểm soát của FDA. Doanh nghiệp xuất khẩu khâu trang y tế sang Mỹ phải được kiểm tra và có giấy chứng nhận từ FDA. Các tô chức sản xuất khẩu trang phải xây dựng hệ thống quản lý và sản xuất đáp ứng được tiêu chuẩn ISO 13485:2016.
Thêm vào đó, doanh nghiệp phải xin được số đăng kí FDA đối với khẩu trang y tế và thử nghiệm khâu trang đạt theo tiêu chuẩn khẩu trang y tế theo ASTM 2100 hoặc ASTM 2101 hoặc ASTM F1862.