CHƯƠNG 1. TONG QUAN CƠ SỞ LY THUYET VE CHIẾN LƯỢC CANH TRANH 1. Cac khai niém 1.1 Khái niệm chiến lược Theo Fred David (2001), chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yêu dé dat được mục tiêu đó, nó cho thấy doanh nghiệp đã, đang hoặc sẽ thực hiện các hoạt động kinh doanh gi.
Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tong thé được cố kết một cách chặt chẽ. Đối với các tô chức kinh doanh, chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dang các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, dé đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên có liên quan. Một trong những định nghĩa khái quát và đầy đủ nhất về chiến lược trong kinh doanh chính là định nghĩa 5P của Mintzberg, bao gồm: Ké hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán Mô thức (Pattern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thé là dự định hoặc không dự định Vị thé (Position): hoà hợp giữa các yêu tố nội tại và các yếu tổ môi trường Muu lược (Ploy): các thủ thuật cạnh tranh với đối thủ Tâm nhìn (Perspective): thé giới quan, ý tưởng được chia sẻ trong tổ chức Theo Chandler (1962), việc xác định mục tiêu của chiến lược là vô cùng quan trong. Day là một chuỗi các hoạt động về phân bổ các nguồn lực cần thiết để hướng đến mục tiêu.
Theo Quinn (1980), chiến lược được xem là mô thức hay kế hoạch tích hợp nhiều mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi các hành động vào một tông một cách bài bản, chặt chẽ. Việc xác định chiến lược kinh doanh sẽ giúp cho doanh nghiệp có định hướng và xác định phạm vu của tổ chức về dai hạn nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh thông qua việc định dạng các nguồn lực. Việc xác định chiến lược cần phải dựa trên những yếu tố của môi trường có tác động đến hoạt động kinh doanh và vận hành của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh không chỉ giúp doanh nghiệp có định hướng phát triển mà thông qua đó doanh nghiệp còn có thể rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu từ việc phân tích các yếu t6 của môi trường bên trong; các cơ hội, thách thức thông qua việc phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài.
Đồng thời chiến lược kinh doanh cũng có thé được thay đôi, điều chỉnh dé phù hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh nhất định. Trong bối cảnh hiện nay, Bruce Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc đặt một công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ đề tạo ra giá tri về kinh tế cho khách hàng. Hendersoncho rằng: ” chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành đọng để phát riển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Nhưng điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn” Gần đây hơn với nhận thức về đặc điểm tiến hóa liên tục và đầy bất trắc của môi trường kinh doanh, khái nệm chiến lược đã được F. David mở rộng theo hướng:” tap hợp quyết định và hành động cho phép dự đoán trước, hoặc it nhất là dự báo được một tương lai có thể nhìn thấy trước nhưng van còn day bat trắc và rùi ro” Một cách tong quat G. Johnson & K, Scholes dinh nghia:” Chiến lược bao ham việc ấn định các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bồ các nguồn lực thiết yếu dé thực hiện các mục tiếu đó” Tóm lại, chiến lược của một doanh nghiệp bao gồm những mục tiêu phải đạt tới trong dài hạn, nhưng đảm bảo về nguồn lực dé đạt được những mục tiêu này và đồng thời những cách thức, tiến trình hành động trong khi sử dụng nhưng nguồn lực này. Do đó, chiến lược được hiểu như là một kế hoạch hoặc hình tác nghiệp tổng quát định hướng sự phát triển và tạo lập lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Một chiến lược tốt, được thực hiện hiệu quả sẽ giúp các nhà quản trị và nhân viên ở mọi cấp quản lý xác định rõ mục tiêu, nhận biết phương hướng hành động, góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp. Khái niệm cạnh tranh Theo Porter (1985), cạnh tranh là việc đấu tranh hoặc giành giật từ đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Bản chất của cạnh tranh hiện nay không nhăm mục dich là tiêu diệt đối thủ mà dé doanh nghiệp có thé tạo ra những giá tri tốt hơn cho khách hàng, tạo được sự độc đáo, mới lạ so với đối thủ cạnh tranh để khách hàng lựa chọn họ thay vì lựa chọn đối thủ cạnh tranh của họ. Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giảnh được sự tồn tại, sống còn, gianh được lợi nhuận, dia vi, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác.
Trong kinh doanh cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp để có được khách hàng và thị trường mong muốn (Samuelson, 1997).Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhăm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch” (Hội đồng Trung Ương chỉ đạo giáo trình quốc gia, 2016, tr. Theo hai nhà kinh tế học Mỹ P. Nordhaus: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng và thị trường” (Paul A. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động ganh đua hoặc tranh giành ít nhất giữa hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sản phâm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tôi đa” (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn, 2005, tập 1, tr.
Ở trong lĩnh vực kinh doanh, cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thé kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác dé thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Đối với nhà kinh tế học Michael Porter, ông định nghĩa: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thê giảm đi”.
Cạnh tranh có vai trò đặc biệt không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn cả người tiêu dùng và nên kinh tê: Đối với doanh nghiệp: cạnh tranh quyết định sự tổn tai và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường, là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đây doanh nghiệp tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Đối với người tiêu dùng: nhờ có cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà người tiêu dùng có cơ hội nhận được những sản phẩm ngày càng phong phú và đa dạng với chất lượng và giá thành phù hợp với khả năng của họ. Đối với nền kinh tế: cạnh tranh là động lực quan trọng dé phát triển lực lượng sản xuất, thúc đây sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Cạnh tranh cũng là điều kiện giáo dục tính năng động của doanh nghiệp bên cạnh đó góp phần gợi mở nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của các sản phâm mới.
Từ những quan điểm trên khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thé kinh tế ganh dua nhau thông qua các hành động, nỗ lực và biện pháp đề đạt được mục tiêu của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, khu vực thị trường có lợi nhất, qua đó giành lấy thị phan và tối đa hóa lợi ích doanh nghiệp và lợi ích tiêu dùng 1. Khái niệm chiến lược cạnh tranh Theo Michael E. Porter (1996), chiến lược cạnh tranh là việc tạo ra một vị thế có giá trị và khác biệt thông qua một loạt những nỗ lực khác nhau. Chiến lược cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương thức, định hướng kinh doanh.
Việc tạo ra chiến lược cần phải tương thích với tất cả hoạt động trong doanh nghiệp. Lê Thế Giới và cộng sự (2007, trang 144) phát biểu rằng “Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là tổng thé các cam kết và hành động giúp doanh nghiệp giành lợi thé cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường sản phẩm cụ thể”. Từ những định nghĩa về chiến lược cũng như cạnh tranh ở trên, chúng ta có thể khái quát: Chiến lược cạnh tranh là sự kết hợp các quyết định khác nhau về các yếu tố nền tảng - sản phẩm, thị trường và năng lực đặc biệt của doanh nghiệp. Chiến lược cạnh tranh bao gom hệ thống các kế hoạch triển khai ngắn hạn và dài hạn mà tổ chức vạch ra với mong muốn đạt được mục tiêu là gia tăng lợi thế cạnh tranh của mình so với các đối thủ khác, đồng thời chủ động đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, mọi cơ hội và thách thức trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh và thực hiện so sánh với chính mình trong cách thức triển khai trước kia.
Mục đích của việc lên chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp là nhằm tạo dựng vị trí của doanh nghiệp trong ngành, lĩnh vực. Hiện nay, chiến lược cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là khi ngành công nghiệp đang thay đôi với tốc độ nhanh, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao đối với những sản phâm, dịch vụ đang được các doanh nghiệp cung cấp có nhiều điểm tương đồng. Một số chiến lược cạnh tranh Các chiến lược cạnh tranh chủ yếu bao gồm 3 chiến lược cạnh tranh của Michael Porter: Chiến lược chi phí thấp; Chiến lược khác biệt hóa; Chiến lược tập trung. Ngoài ra, còn có chiến lược Chiến lược Đại đương xanh do Mauborgne và Kim (2004) đề xuất.