Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Chi tiêu công giáo dục đào tạo Theo Dương Thị Bình Minh (2004) thì chi tiêu công là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của nhà nước, là công cụ tài chính của nhà nước để trang trải và đảm bảo các hoạt động của bộ máy quản lý, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, can thiệp vào các hoạt động kinh tế xã hội nhằm ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, bảo vệ lợi ích chung của các chủ thể trong xã hội.
Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng (Dương Thị Bình Minh, 2004). Nguồn tài trợ chi tiêu công gồm: Nguồn thu từ thuế và lệ phí; Nguồn thu từ đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư; Nguồn tại trợ từ bên ngoài; Các nguồn khác được ghi thu vào ngân sách nhà nước (Dương Thị Bình Minh, 2004). Như vậy, từ khái niệm chi tiêu công có thể hiểu chi tiêu công cho giáo dục đào tạo là các khoản chi của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nhằm thực hiện các chức năng quản lý của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân và phát triển kinh tế - xã hội. Chi tiêu công giáo dục đào tạo được chia làm 2 nội dung lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư công.
Chi thường xuyên về giáo dục đào tạo là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý giáo dục đào tạo. Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các nhiệm vụ chi thường xuyên về giáo dục đào tạo ngày càng gia tăng. Chi đầu tư công là quá trình nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tạo lập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 được thông qua các hoạt động thu của ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm bảo đảm thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế (Dương Thị Bình Minh, 2004). Như vậy, có thể hiểu chi đầu tư công cho giáo dục đào tạo là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ cho giáo dục đào tạo.
Vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư (Luật Đầu tư công, 2014). Phát triển nguồn nhân lực 2. Khái niệm nguồn nhân lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc (1995) thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Theo Begg, Fischer và Dornbusch (1995), nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai. Theo Phạm Minh Hạc (2001), nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn nhân lực có thể xác định cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương và nó khác với các nguồn lực khác (tài TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 chính, đất đai, công nghệ) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên vào trong quá trình lao động nảy sinh các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu này, nguồn nhân lực được xem xét ở nghĩa hẹp thể hiện ở trình độ văn hóa của người dân trong phạm vi tỉnh Cà Mau. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có nhiều cách tiếp cận khác nhau. UNESCO (1997) cho rằng phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ phát triển của đất nước.
Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với quan niệm của UNESCO là phải gắn với phát triển sản xuất và chỉ nên giới hạn phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kĩ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm. Tổ chức Lao động quốc tế (2000) cho rằng phát triền nguồn nhân lực không chỉ chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc bao gồm cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để phát triển tiến tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Mặc dù có sự diễn đạt khác nhau, song có một điểm chung nhất của các định nghĩa là đều coi phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển quốc gia. Do vậy, có thể hiểu, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội.
Quá trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề; tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá, truyền thống lịch sử dân tộc…. Trong phạm vi nghiên cứu này, phát triển nguồn nhân lực được xem xét ở khía cạnh nâng cao trình độ văn hóa của người dân trong phạm vi tỉnh Cà Mau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Vai trò của giáo dục, đào tạo đối với kinh tế, xã hội Giáo dục được xem là hoạt động xã hội rộng lớn có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia.
Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững (Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị Đại hội IX, 2001). Giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng đối với kinh tế. Giáo dục là con đường cơ bản nhất để tích luỹ nguồn nhân lực - nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nguồn nhân lực là tài sản vô hình của mỗi quốc gia.
Các nhà kinh tế cho rằng khi định giá tài sản quốc giá cần phải tính toán phần giá trị của nguồn nhân lực. Vai trò của nguồn nhân lực trong việc thúc đẩy kinh tế đã được ghi nhận trong các lý thuyết về tăng trưởng nội sinh. Romer (1986), Lucas (1988) đã khẳng định nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tăng trưởng và giảm nghèo. Nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế là vì các kỹ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, khi kết hợp với vốn hữu hình sẽ tạo ra sản phẩm và kiến thức tạo ra sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế (Mincer, 1989).
Vai trò của chi tiêu giáo dục góp phần cải thiện nguồn nhân lực, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Barro và Martin (1995) đã xây dựng hàm tăng trưởng có dạng Y = Kα(uH)1-α .Với u là thời gian dành cho sản xuất, H là nguồn nhân lực và K là vốn, Y là sản lượng quốc gia. Vai trò của nhà nước đối với chi tiêu công cho giáo dục đào tạo 2. Quan điểm của trường phái tân cổ điển Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động.
mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng định, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 một trong các ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động thông qua bàn tay vô hình của thị trường. Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất. Cộng các đơn vị sản xuất này trong nền kinh tế sẽ hình thành cơ cấu đầu tư của nền kinh tế và cơ cấu đó là hợp lý.
Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ dừng lại ở mức cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội (giáo dục đào tạo, y tế …) mà nếu để thị trường tự vận động thì không thể đáp ứng được.