Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI XÃ HỘI ĐỐI VỚI THƯƠNG BINH 1. Một số vấn đề chung về ưu đãi xã hội 1. Sự ra đời của ưu đãi xã hội Trong bất kỳ xã hội nào, cũng có những cá nhân có cống hiến xuất sắc cho công cuộc đấu tranh bảo vệ, giữ gìn đất nước mà còn cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước. Những người đã cống hiến, hy sinh, có công lao to lớn đối với đất nước đều được ghi nhận, tôn vinh và thể hiện sự biết ơn thông qua những chính sách trợ cấp, ưu đãi về vật chất lẫn tinh thần, gọi là Chính sách ưu đãi xã hội.
Điều này là sự thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay. Nó giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức, trách nhiệm, lòng dũng cảm và tinh thần phấn đấu rèn luyện không ngừng để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Với chức năng của mình, Nhà nước ban hành chính sách ưu đãi xã hội và triển khai thực hiện chính sách một cách tốt nhất, hiệu quả nhất, Nhà nước đóng vai trò vừa là người lãnh đạo, thực hiện vừa là người hướng cho việc triển khai pháp luật, chính sách về ưu đãi xã hội, huy động tối đa nguồn lực từ cộng đồng, xã hội để giúp đảm bảo cho người có công được hưởng những quyền lợi của mình, cải thiện cuộc sống của họ, giúp họ vượt qua khó khăn vươn lên và tiếp tục cống hiến cho đất nước trong công cuộc đổi mới xây dựng Tổ quốc. Ưu đãi xã hội là một bộ phận của An sinh xã hội; là một chính sách an sinh xã hội rất đặc thù ở nước ta.
Ưu đãi xã hội hình thành và phát triển gắn liền với quá trình đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do của đất nước. Quá trình hình thành và phát triển các chế độ ưu đãi xã hội được thể hiện qua các giai đoạn sau: 1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 Ngay từ những ngày đầu đất nước độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng tới công tác chăm sóc thương binh, liệt sỹ, người có công. Năm 1946, Hồ 12 Chủ tịch đã kêu gọi thành lập Hội Binh sĩ bị thương khởi xướng phong trào “Mùa đông binh sĩ”, luôn quan tâm thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sỹ.
Ngày 16/02/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là Sắc lệnh đầu tiên về chính sách thương binh, liệt sĩ và người có công; một sự kiện quan trọng trong chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh, cống hiến của các thương binh, liệt sĩ và người có công với nước. Ngay từ ngày thương binh toàn quốc đầu tiên 27/7/1947 Hồ Chủ tịch đã nêu rõ “Thương binh là những người đã hi sinh gia đình, hi sinh xương, máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy” [26].
Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 đều có những chính sách bảo đảm cho công nhân viên ngành quân giới bị thương được hưởng quyền lợi giống như quân nhân và quyền lợi ưu tiên như đối với thương binh. Tháng 5/1954, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ có văn bản quy định cho nhân dân, cán bộ dân chính, công an dân quân hoặc thường dân tham gia dân công, tham gia chiến đấu mà bị thương thì cũng coi là thương binh. Có thể thấy, trong kháng chiến chống Pháp tuy đất nước còn nghèo nhưng Nhà nước đã ban hành các văn bản thể hiện sự quan tâm ưu đãi đối với thương binh, người có công, giải quyết được yêu cầu cấp bách về yêu cầu công nhận, chế độ ưu đãi trợ cấp và một số lĩnh vực cơ bản về chăm sóc sức khỏe. Song do hoàn cảnh kháng chiến các văn bản này còn đơn giản, nội dung mang tính định hướng là chủ yếu, mức ưu đãi còn thấp.
Thực hiện chế độ ưu đãi trong thời gian này chủ yếu là phát huy truyền thống của dân tộc, dựa vào nguồn lực địa phương và tình cảm của nhân dân là chủ yếu. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1975 Đây là thời kỳ miền Bắc nước ta đã giành được độc lập, do đó pháp luật ưu đãi trong giai đoạn này gắn liền với nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc và tạo điều kiện cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam. 13 Những văn bản ban hành quan trọng trong thời kỳ này như: Nghị định số 980/TTg ngày 27/07/1956 ban hành Điều lệ ưu đãi thương binh, bệnh binh, dân quân du kích, thanh niên xung phong bị thương tật; Thông tư số 51/TTg ngày 17/05/1965 của Hội đồng Chính phủ quy định các cơ quan, xí nghiệp phải tiếp nhận 5% biên chế là thương binh,. Đến giai đoạn 1964 – 1975, do tính chất của cuộc chiến tranh chống Mỹ bước vào giai đoạn gay go, ác liệt, ưu đãi người có công với cách mạng được đề cao hơn.
Các văn bản liên tục được bổ sung, hoàn thiện như Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 kèm theo Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân, du kích; quy định chế độ trợ cấp thương tật, chế độ đối với thương binh ở trại, chế độ miễn, giảm tiền tàu xe, ưu tiên sắp xếp việc làm, xác định khái niệm “liệt sỹ” thay cho “tử sĩ”, trợ cấp tử tuất cho gia đình liệt sỹ, chính sách trợ giúp thương binh, gia đình liệt sỹ trong hoạt động hợp tác xã nông nghiệp. Các quy định thời kỳ này tương đối toàn diện, bước đầu đảm bảo cả đời sống vật chất và tinh thần cho người có công, góp phần to lớn động viên khích lệ các chiến sĩ, cán bộ nhân dân hăng hái chiến đấu, hết lòng chi viện cho miền Nam. Tuy nhiên, các quy định chưa rõ ràng, cụ thể nên công tác thực hiện không ổn định như đối với gia đình liệt sỹ chưa có quy định trợ cấp hàng tháng nên họ gặp rất nhiều khó khăn. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1986 Hòa bình lập lại trên cả nước, Đảng và Nhà nước phải giải quyết tồn đọng sau chiến tranh, đồng thời bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Yêu cầu đặt ra thống nhất hệ thống chính sách thương binh – liệt sỹ trong cả nước. Nhà nước đã ban hành các văn bản: Chỉ thị số 223/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng xác định yêu cầu nhiệm vụ của công tác thương binh; Nghị định số 08 ngày 17/06/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam quy định đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận và giải quyết chế độ đối với thương binh, 14 liệt sỹ; Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 bổ sung tiêu chuẩn xác nhận thương binh trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Trong giai đoạn này, đất nước vừa được giải phóng, còn nhiều khó khăn phải khắc phục, đời sống nhân dân vô cùng vất vả, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định chế độ ưu đãi đối với người có công. Những quy định này đã góp phần giải quyết được những yêu cầu trước mắt, phù hợp với công cuộc xây dựng đất nước trong tình hình mới.
Giai đoạn từ sau năm 1986 đến 1994 Đây là giai đoạn có ý nghĩa với sự phát triển của chế độ ưu đãi xã hội nước ta. Trong bối cảnh lịch sử đất nước ta từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, chế độ ưu đãi đối với người có công đã có những thay đổi rất quan trọng, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ưu đãi xã hội theo cơ chế mới. Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản chính sách về chế độ ưu đãi, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng quyết định đến mọi đời sống của người có công thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đáng chú ý là Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng bổ sung, xóa bỏ sự khác biệt trong các quy định ưu đãi do lịch sử để lại.
Cùng với sự chuyển đổi này, việc điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội cũng được thay đổi cho phù hợp với cơ chế mới. Chính sách ưu đãi người có công theo đó cũng được thay đổi, bổ sung cho hợp lý hơn như Quyết định số 79/HĐBT ngày 05/07/1989, Quyết định số 08/HĐBT ngày 05/01/1990, Nghị định số 27/CP ngày 23/04/1993,. Những năm cuối của giai đoạn này, đất nước đã dần ổn định, nền kinh tế đã có sự phát triển, những mâu thuẫn xã hội của nền kinh tế thị trường trở nên mạnh mẽ, đòi hỏi Nhà nước phải có sự quan tâm hơn nữa đến chính sách người có Công. Nổi bật nhất là vào ngày 29/8/1994, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 02 văn bản rất quan trọng đối với chính sách người có công, đó là Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng, và Pháp lệnh quy 15 định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.
Tiếp theo đó Nhà nước đã ban hành một số Nghị định, Thông tư,. để hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh cũng như hoàn thiện hơn những quy định về ưu đãi người có công. Hai quy định này đã đánh dấu cho sự phát triển, tiến bộ của pháp luật ưu đãi người có công trong hệ thống các chính sách, pháp luật. Giai đoạn từ 1995 đến nay Từ năm 1995 đến nay công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu.
Tuy còn nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đất nước ta đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Đảng, Nhà nước đã có sự quan tâm sâu sắc đến mọi mặt đời sống của nhân dân, hệ thống chính sách, pháp luật đang ngày dần hoàn thiện. Chính sách mở cửa, hội nhập đem lại nhiều đổi mới đối với người có công, nâng cao đời sống của dân ngày càng tốt hơn. Trong giai đoạn này có một số điểm nổi bật, đánh dấu sự phát triển của pháp luật ưu đãi người có công.