phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về chế độ hƣu trí Chƣơng 2: Thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ hƣu trí từ thực tiễn quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ hƣu trí và nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hƣu trí tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƢU TRÍ 1. Những vấn đề lý luận về chế độ hƣu trí 1. Khái niệm chế độ hưu trí Để làm rõ nội hàm khái niệm chế độ hƣu trí cần làm rõ khái niệm hƣu trí là gì? Chế độ hƣu trí là gì? - Khái niệm hƣu trí Con ngƣời muốn tồn tại và phát triển phải tham gia lao động. Quá trình lao động con ngƣời sẽ tạo ra của cải vật chất nuôi sống bản thân mình và gia đình, đồng thời góp phần vào sự thúc đẩy phát triển nền kinh tế của xã hội.
Bản thân mỗi con ngƣời ai cũng phải trải qua những giai đoạn khác nhau trong quá trình lao động. Mỗi một giai đoạn đều gắn liền với dấu mốc về độ tuổi của từng ngƣời.Tuổi còn trẻ khả năng lao động của chúng ta sẽ gấp nhiều lần so với khi về già. Khối lƣợng công việc cũng nhƣ hiệu quả công việc khi chúng ta thực hiện khi còn trẻ sẽ không thể so sánh với khối lƣợng công việc và năng suất công việc khi chúng ta đã hết tuổi lao động bởi khi hết tuổi lao động, ngƣời lao động (NLĐ) sẽ giảm sút khả năng lao động do sức khỏe kém thậm chí không còn khả năng lao động. Trong những hoàn cảnh nhƣ vậy NLĐ sẽ phải phụ thuộc vào con cháu hoặc sống nhờ vào những khoản tiền tiết kiệm do tích góp mà có.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có những khoản tích góp riêng khi về già. Mặt khác, khi về già nhu cầu về cuộc sống lại tăng lên do nhu cầu về chăm sóc sức khỏe bởi ốm đau, bệnh tật…Chính vì lẽ đó cần có chế độ để giúp đỡ, hỗ trợ đối với những ngƣời lao động đã hết độ tuổi lao động. Chế độ đó thƣờng đƣợc gọi là chế độ hƣu trí. Nhƣ vậy, bản chất của hƣu trí là tên gọi dùng để chỉ những đối tƣợng đã hết tuổi lao động, không tham gia lao động chính nữa.
Hay nói cách khác, hƣu trí là đối tƣợng đã về hƣu hoặc nghỉ hƣu theo chế độ và đƣợc hƣởng các chế độ của bảo hiểm. Khái niệm về hƣu trí đƣợc hiểu dựa trên hai tiêu chí cơ bản: sức lao động của ngƣời lao động và điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia. 7 - Chế độ hƣu trí Chế độ hƣu trí là một trong những nội dung của BHHT liên quan trực tiếp đến quyền lợi của ngƣời lao động tham gia bảo hiểm xã hội với mục đích bảo đảm đảm bảo thu nhập cho ngƣời lao động khi già yếu, hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa. Xét ở khía cạnh nhân quyền thì quyền hƣởng hƣu trí là quyền của công dân, của ngƣời lao động.
Điều này đã đƣợc ghi nhận tại Điều 9 Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 của Liên Hợp Quốc "Các quốc gia thành viên Công ƣớc này thừa nhận quyền của mọi ngƣời đƣợc hƣởng an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội”. Điều 25 Phần IV Công ƣớc số 102 năm 1952 của ILO quy định những quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội cũng nhấn mạnh: "Mọi nƣớc thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ƣớc phải đảm bảo cho những ngƣời đƣợc bảo vệ đƣợc nhận trợ cấp tuổi già theo những điều của Công ƣớc”. Công ƣớc số 102 năm 1952 đƣợc coi là một trong những văn bản pháp luật cơ bản nhất đƣa ra những quy phạm tối thiểu về BHXH mà một quốc gia tùy thuộc điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của mình mà dựa vào đó để xây dựng văn bản pháp luật về BHXH của nƣớc mình. Công ƣớc 102 quy định 9 chế độ BHXH sau: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau; trợ cấp thai sản; trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp; trợ cấp tàn tật, mất sức lao động; trợ cấp tuổi già (hƣu trí); trợ cấp tử tuất; trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp gia đình.
Theo quy định của ILO trong Công ƣớc 102, để đảm bảo mức tối thiểu về an sinh xã hội thì các nƣớc thành viên cần lựa chọn ít nhất là ba trong chín chế độ bảo hiểm xã hội, trong đó có khuyến nghị các nƣớc thành viên phải thực hiện bảo hiểm hƣu trí bắt buộc. Điều này chứng tỏ, chế độ hƣu trí luôn đƣợc ILO, Chính phủ các nƣớc cũng nhƣ ngƣời lao động hết sức quan tâm. Ở Việt Nam, chế độ hƣu trí là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội đƣợc Nhà nƣớc hết sức quan tâm, luôn có sự sửa đổi bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với thực tế đƣợc ghi nhận trong Luật Bảo hiểm (Luật BHXH số 71/2006/QH11 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006; Luật BHXH số 58/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung và thay thế Luật BHXH số 71/2006/QH11 và hệ thống các văn bản dƣới 8 luật có liên quan). Ngƣời lao động tham gia bảo hiểm xã hội, khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa đƣợc hƣởng chế độ bảo hiểm hƣu trí một lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật.
Đây là khoản trợ cấp nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho ngƣời về hƣu, thay thế cho khoản tiền lƣơng trƣớc đây mà họ có đƣợc khi còn đang tham gia quan hệ lao động. Có thể thấy rằng ở Việt Nam, chế độ hƣu trí là bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, là một trong những chế độ BHXH đƣợc Nhà nƣớc hết sức quan tâm. Chế độ bảo hiểm hƣu trí là công cụ quan trọng để Nhà nƣớc phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro cho mọi thành viên trong xã hội. Chế độ hƣu trí luôn có sự sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội trong từng giai đoạn phát triển khác nhau.
Ngƣời lao động tham gia bảo hiểm xã hội, khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa đƣợc hƣởng chế độ bảo hiểm hƣu trí một lần hoặc hàng tháng theo quy định của pháp luật. Đây là khoản trợ cấp nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống cho ngƣời về hƣu, thay thế cho khoản tiền lƣơng trƣớc đây mà họ có đƣợc khi còn đang tham gia quan hệ lao động. Hiểu rõ khái niệm hƣu trí, chế độ hƣu trí sẽ giúp chúng ta hiểu sâu đƣợc bản chất của hƣu trí .Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống các chế độ BHXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển. Trong hoạt động sản xuất, trƣớc những rủi ro của cuộc sống (già yếu, ốm đau, tai nạn lao động) đã buộc NLĐ tìm cách khắc phục bằng những hành động tƣơng thân, tƣơng ái (lập các quỹ tƣơng tế, các hội công đoàn…) đồng thời họ đòi hỏi giới chủ và Nhà nƣớc phải có trợ giúp đảm bảo cuộc sống cho họ khi gặp những rủi ro đó.
Năm 1850, một số bang của nƣớc Đức lần đầu tiên thành lập quỹ hỗ trợ nỗi đau. Năm 1883, họ tiếp tục ban hành Luật BHYT và bảo hiểm tai nạn lao động sau đó là đạo luật về hƣu trí với sự đóng góp của cả 3 bên (NLĐ, chủ SDLĐ, nhà nƣớc) nhằm bảo vệ NLĐ trong các trƣờng hợp rủi ro”[22] 9 Kinh nghiệm về BHXH của Đức sau đó đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới học hỏi. Các chế độ BHXH bắt buộc đầu tiên đƣợc thực hiện là bảo hiểm ốm đau, BHYT, bảo hiểm tai nạn lao động và BHHT. Sau đó khi hệ thống BHXH đƣợc nhân rộng, các nƣớc mới mở rộng thêm các chế độ bảo hiểm khác nhƣ tuất, thất nghiệp, bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động.
Tháng 6 năm 1952, ILO đã thông qua công ƣớc số 102 về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, trong đó đƣa ra hệ thống các chế độ BHXH bao gồm các chế độ: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất ngiệp, trợ cấp tuổi già (hƣu bổng), trợ cấp TNLĐ, BNN, trợ cấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuấtvà khuyến nghị các nƣớc thành viên ít nhất phải thực hiện đƣợc 3 chế độ, trong đó ít nhất phải có một trong 5 chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp TNLĐ- BNN, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tiền tuất. Nhƣ vậy, BHHT luôn đƣợc ILO, Chính phủ các nƣớc cũng nhƣ NLĐ quan tâm. Tại Điều 25, Điều 26 Công ƣớc 102 quy định: Mọi Nƣớc thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ƣớc phải đảm bảo cho những ngƣời đƣợc bảo vệ đƣợc nhận trợ cấp tuổi già ( hƣu bổng) theo những Điều sau đây của Phần này; Trƣờng hợp bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn một độ tuổi đƣợc quy định; Độ tuổi quy định không đƣợc quá 65. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền có thể ấn định một độ tuổi cao hơn, xét theo khả năng làm việc của những ngƣời cao tuổi trong nƣớc đó.
Nhƣ vậy, CĐHT luôn đƣợc ILO, Chính phủ các nƣớc cũng nhƣ NLĐ quan tâm. Đất nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ngay khi dành đƣợc chính quyền cũng đã quan tâm đến các chế độ BHXH, trong đó có chế độ hƣu trí thể hiện trong các điều khoản của Sắc lệnh số 54/SL ngày 03/11/1945, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950. Do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nền kinh tế còn nghèo nàn nên chính sách BHXH ban hành trong thời kỳ này nói chung và chế độ hƣu trí nói riêng còn rất hạn chế. Sau hòa bình lặp lại, Chính phủ đã ban hành điều lệ BHXH tạm thời kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 về BHXH cho công nhân viên 10 chức nhà nƣớc.
Tiếp đến ngày 18/9/1985 cùng với việc cải tiến chế độ tiền lƣơng, Hội đồng bộ trƣởng đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT sửa đổi, bổ sung các quy định về cách quy đổi thời gian công tác cũng nhƣ trong quy định lại cách tính lƣơng hƣu.Tuy nhiên chính sách BHXH nói chung và chế độ hƣu trí nói riêng thực sự có những thay đổi căn bản khi Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động (có hiệu lực từ 01/01/1995).