CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ BHXH, bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nhận nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai. Tình trạng thai sản bao gồm: mang thai, sinh con, nhận nuôi con nuôi sơ sinh, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu, thực hiện các biện pháp tránh thai. Chế độ thai sản được cấu thành bởi các nội dung: điều kiện hưởng chế độ thai sản, nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản và chế độ nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau sinh.
Chế độ thai sản do quỹ bảo hiểm ốm đau và thai sản chi trả. So với các chế độ khác, đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai. Thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên, mục đích trợ giúp, giữ cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ và người lao động. Hiện nay, chế độ thai sản được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới nhưng tuỳ vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ này quy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng,… 9 Chế độ bảo hiểm thai sản cũng như các chính sách xã hội đối với lao động nữ nói chung, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội.
Trong các quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, bảo hiểm thai sản được coi là chế độ bảo hiểm đặc thù, nó tạo điều kiện để người lao động chủ yếu là lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ, nhưng quan trọng hơn là tạo điều kiện cho lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội. - Đối với người lao động: Chế độ thai sản có vai trò bù đắp một phần thiếu hụt về thu nhập của người lao động. Trong thời kỳ thai sản, người lao động phải nghỉ việc, không có lương, vì thế thu nhập sẽ bị giảm. Chế độ thai sản trợ cấp cho người lao động một mặt bù đắp được thu nhập bị giảm, mặt khác hỗ trợ được các khoản chi phí tăng thêm như: mua sắm dụng cụ, tã lót, sữa,…cho em bé, tăng cường dinh dưỡng cho mẹ.
Đồng thời, giúp thực hiện tốt chức năng và bảo vệ quyền làm mẹ, làm vợ của người phụ nữ. Bên cạnh đó, giúp cho tâm lý của người lao động ổn định, đặc biệt là người lao động khi họ có nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái, bảo vệ sức khoẻ của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao động. Đặc biệt trong thời kỳ thai sản, người lao động bị giảm thu nhập do không có thời gian tập trung nhiều cho công việc mà phải dành thời gian trong thời kỳ khám thai, chăm sóc con sơ sinh… nên nhờ có chế độ thai sản đã hỗ trợ một phần lớn chi phí của lao động trong thời kỳ thai sản. - Đối với người sử dụng lao động: Thực hiện tốt chế độ thai sản sẽ góp phần thu hút lao động nữ vào các doanh nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ tham gia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và trình độ ngày càng cao trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hoá và dịch vụ.
Thông qua chính sách này người sử dụng lao động thể 10 hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với người lao động và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động, đặc biệt là lao động nữ đã và đang ngày càng tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội. - Đối với nền kinh tế - xã hội: Thực hiện tốt chế độ thai sản góp phần ổn định cuộc sống cho xã hội, đảm bảo thực hiện chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Chế độ thai sản còn mang ý nghĩa góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho nền kinh tế trong tương lai, góp phần dung hoà mối quan hệ người sử dụng lao động và người lao động giúp cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp tăng trưởng kinh tế. Nội dung của chế độ bảo hiểm thai sản 1.
Nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản - Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm về mặt xã hội Để người lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v. Đây là nguyên tắc đảm bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm này được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ BHXH).
Mức bảo đảm về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời không tham gia vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi). - Bảo hiểm xã hội vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ tham gia tối thiểu (thời gian mức đóng bảo hiểm v. Như vậy, Nhà nước đóng vai trò tổ chức, định hướng để người lao động và người sử dụng lao động hiểu được nghĩa vụ và trách 11 nhiệm hợp lý tham gia vào các quan hệ về BHXH.
Điều này được thể chế hoá trong Bộ luật Lao động và các văn bản pháp quy khác về BHXH. Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích mức tham gia, các loạI hình và chế độ bảo hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự phát triển của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này cho phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn. - Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ Bảo hiểm xã hội Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến các khía cạnh có liên quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ BHXH.
Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời gian tối thiểu để tham gia và được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động v. Mặt khác, mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng. Nguyên tắc này liên quan trức tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
- Bảo hiểm xã hội phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra, thậm trí mang tính thường xuyên. Sự thay đổi nơi làm việc và thay đổi hợp đồng lao động cả vể nội dung đối tác v.v… tạo ra những giai đoạn có thể về thời gian và không gian của quá trình làm việc. Điều này có thể xảy ra trong cả các quan hệ về BHXH. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận tiên cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn.
Do vậy, mức tham 12 gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất đẻ duy trì quan hệ BHXH đối với người lao động. - Công bằng trong Bảo hiểm xã hội: Đây là nguyên tắc rất quan trọng song cũng rất phức tạp trong chính sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiên trong một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình lao động. Trong quá trình đó có thể có sự thay đổi diễn ra.
Mức và thời gian tham gia của từng người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không giống nhau. Việc theo dõi và ghi nhận các vấn đề này không đơn giản nhất là trong điều kiện một hệ thống BHXH đang còn có những khác biệt về đối tượng thành phần và khu vực tham gia ở nước ta hiện nay. Do vậy đảm bảo công bằng trong BHXH là rất cần thiết nhưng rất khó đảm bảo tính tuyệt đối. Sự công bằng, trước hết là phải đặt trong trong quan hệ giữa đóng góp và được hưởng.
Điều này được thể hiên trong nội dung và điều kiên tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ khác, công bằng còn đặt trong các quan hệ xã hội giữa những người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các vùng, địa bàn, ngành nghề khác nhau v.v… dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm. Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản - Về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm thai sản: Đối tượng của chế độ bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai. Công ước số 102 - Công ước về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, năm 1952 chỉ rõ: “Trường hợp bảo vệ bao gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, và sự gián đoạn thu nhập nảy sinh như pháp luật của quốc gia quy định” [53].