Đặt vấn đề Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người mang lại các quyền lợi và thu nhập đảm bảo cuộc sống của bản thân NLĐ và nuôi sống gia đình. Theo (ILO, 2014) thì thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm, việc làm chất lượng kém và việc làm không hiệu quả, làm việc không an toàn và thu nhập không đảm bảo, quyền tại nơi làm việc không được đảm bảo, bất bình đẳng giới, thiếu đại diện và không có tiếng nói, bảo trợ xã hội không đầy đủ khi NLĐ phải đối mặt với bệnh tật và tuổi già. Khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra kéo theo hệ lụy là lạm phát tăng ca, tỷ lệ thất nghiệp tràn lan, làm ảnh hưởng đến mọi mặt trong xã hội (Nguyễn Thị Lan Hương và các cộng sự, 2013). Theo thống kê cho biết hiện nay nước ta đạt 51 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, cả nước có gần 49.9 triệu lao động có việc làm và khoảng 1.1 triệu lao động thất nghiệp (Tổng Cục Thống Kê, 2021).
Cũng theo như Thống kê về Tình hình lao động việc làm Quý III năm 2021, diễn biến phức tạp của đại dịch Covid thì tại các tỉnh, thành phố trọng điểm kinh tế đã khiến cho tình hình lao động việc làm tồi tệ hơn, số người có việc làm giảm sâu, số người thất nghiệp, thiếu việc làm đẩy lên mức cao nhất trong vòng mười năm qua. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp là 1.1 triệu lao động thế nhưng so với tổng số là 51 triệu lao động thì cũng không đáng kể. Với nguồn lao động dồi dào như vậy thì nhu cầu về việc làm ngày càng lớn, chất lượng việc làm lại càng cần phải chú trọng, đã đặt ra những thách thức cho xã hội. Chính vì vậy, cần phải có những chính sách kịp thời, có nhiều sự nghiên cứu phù hợp để giải quyết vấn đề lao động và chất lượng việc làm hiện nay.
Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng, số người trong độ tuổi lao động cao vì vậy vấn đề việc làm càng được Nhà nước và xã hội quan tâm. Mỗi năm nước ta phải giải quyết khoảng 1 triệu việc làm mới. Xu hướng việc làm 1 ngày càng ít tỷ lệ người tham gia nông nghiệp ngày một giảm. Trong vòng mười năm trở lại đây từ 49.1% (2020) giảm liên tục qua các năm, trong khi đó ngành công nghiệp tăng từ 21.8% (2020) (Tổng Cục Thống Kê, 2020) và đã tăng liên tục qua các năm.
Điều đó càng khẳng định xu thế nói chung của việc làm hiện nay là chuyển từ lao động các ngành nông nghiệp sang các ngành nghề thuộc công nghiệp và dịch vụ. Trong thời gian gần đây, việc làm trở nên khó tìm việc do tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều khó khăn, nhu cầu tuyển dụng lao động bị thu hẹp, để có thể đáp ứng nhu cầu của cuộc sống, NLĐ buộc phải chấp nhận làm những công việc chất lượng thấp. Thu nhập của lao động nông thôn thấp, có sự chệnh lệch ngày càng lớn về thu nhập ở thành thị và nông thôn. Năm 2021, bình quân một lao động thu nhập 5.9 triệu đồng/tháng/năm.
Trong cùng thời kỳ, tốc độ tăng thu nhập của lao động thành thị cao hơn 1,41 lần lao động nông thôn (tương ứng 7.2 triệu đồng so với 5. Thế nhưng, hiện nay rất nhiều lao động nông thôn lựa chọn làm việc tại các công ty gần nhà thay cho việc di cư lên các khu công nghiệp tại các thành phố lớn vì công việc của công nhân trong các khu công nghiệp cũng vất vả hơn so với công nhân thông thường, vả lại họ cũng ngại phải đối mặt với những vấn đề lao động nhập cư đang phải đối mặt là khó khăn về nhà ở, những rào cản đối với việc tiếp cận với các dịch vụ y tế, sinh hoạt cộng đồng, sức khỏe sinh sản, … (Nguyễn Tuấn Anh và các cộng sự, 2016). Chính những điều này đã cho thấy được vấn đề chất lượng cuộc sống mà việc làm đem lại cho những công nhân hiện nay. Những bất cập cho lao động nông thôn làm việc trong các công ty, xí nghiệp hiện nay đó là : điều kiện làm việc của NLĐ không thuận lợi, môi trường làm việc không đầy đủ ánh sáng, trật trội, nóng bức, ẩm thấp, thiết bị phục vụ sản xuất và đảm bảo sức khoẻ, an toàn cho NLĐ chưa được đảm bảo và có ảnh hưởng đến sức khoẻ của NLĐ cũng như năng suất lao động.
Các chế độ phúc lợi, bảo hiểm xã hội, thu nhập của NLĐ còn thấp và chưa được cải thiện (Dương 2 Thị Hoài Thương, 2020). Công việc và môi trường làm việc của lao động tại các khu công nghiệp ở nông thôn đang đối mặt với các vấn đề : Hợp đồng lao động, điều kiện việc làm, cường độ làm việc cao trong khi công việc lại không ổn định, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với công sức bỏ ra. Trong nghiên cứu của (Hà Thị Phương Tiến và các cộng sự, 2000) thì việc chất lượng việc làm của công nhân thấp, không đảm bảo dẫn đến họ gặp phải nhiều khó khăn và trở ngại trong cuộc sống như giữa thứ mà họ nhận được không tương xứng với cái mà họ bỏ ra. Theo nghiên cứu của tổ chức (OXFAM) nhiều công nhân có mức lương dưới mức lương đủ sống, và đang phải vật lộn để nuôi sống bản thân và gia đình, thậm chí có những lúc bị đói, họ không có thời gian chăm sóc con cái, về thăm cha mẹ ở quê và không có thời gian dành cho giao lưu với bạn bè.
Hay thời gian làm việc và nghỉ ngơi, tiền lương, phát triển kỹ năng và mối quan hệ tại nơi làm việc, chính sách bảo hiểm và bảo đảm việc làm, điều kiện làm việc, các phúc lợi như được hưởng lương ngày nghỉ lễ, tết, phép, được nhận tiền thưởng và phúc lợi khác ngoài lương còn ở mức dưới trung bình (Chử Thị Lân, 2015). Như vậy, có thể thấy lao động nông thôn trong các công ty, xí nghiệp ngoài việc gặp phải những bất cập về điều kiện làm việc mà cả thu nhập, những chính sách phúc lợi, bảo hiểm cũng không được đảm bảo. chính những điều này đã cho thấy được vấn đề về chất lượng việc làm của công nhân hiện nay. Hiện nay, tại địa bàn xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Công ty giày Venus đã thu hút được rất nhiều lao động đến làm việc, điều đó đã làm thay đổi đời sống của đời sống của người dân.
Chính vì thế mà vấn đề chất lượng việc làm của công nhân cũng là một vấn đề nổi cộm, vì đây là lực lượng lao động chính của xã hội và là nguồn lực lớn cho sự phát triển CNH – HĐH ở nông thôn. Chính vì thế, mà thông qua đề tài : « Chất lượng việc làm của công nhân trong công ty giày Venus » để nhằm tìm hiểu chất lượng việc làm của công nhân. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung - Tìm hiểu chất lượng việc làm của công nhân làm việc trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.2 Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đặc điểm của công nhân làm việc trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. - Tìm hiểu về thu nhập và phúc lợi của công nhân làm việc trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
- Tìm hiểu về điều kiện và môi trường làm việc của công nhân làm việc trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.3 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu - Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng việc làm của công nhân trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.2 Khách thể nghiên cứu - Những công nhân đang làm việc trong công ty giày Venus tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.3 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung : Đề tài này tôi tập trung nghiên cứu đến đặc điểm, thu nhập, phúc lợi từ việc làm của công nhân, thời gian, điều kiện làm việc và môi trường làm việc của công nhân tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. - Phạm vi không gian : Đề tài được thực hiện tại xã Yến Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. - Phạm vi thời gian : Đề tài được thực hiện nghiên cứu với những công nhân đang làm trong công ty giày Venus có thâm niên làm việc từ 3 tháng trở lên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2.1 Lý thuyết lựa chọn duy lý Thuyết lựa chọn duy lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn hợp lý) trong xã hội học có nguồn gốc triết học, kinh tế học và nhân học vào thế kỷ VII, XIX.
Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là vị kỷ, luôn tìm đến sự hài lòng, sự thỏa mãn nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển thì từng nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, thuận lợi khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động. Đặc trưng nhất có tính chất xuất phát điểm của sự lựa chọn duy lí chính là cá nhân lựa chọn hành động. Thuyết này gắn với tên tuổi của nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như : G.Simmel, Homans, Peter Blau, James Coleman.
Thuyết lựa chọn duy lí dựa vào tiêu đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được hiệu quả toi đa với chi phí toi thiểu. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng các loại phương tiện hay cách thức toi ưu trong những điều kiện khan hiếm các nguồn lực một cách duy lí nhằm đạt được hiệu quả toi đa với chi phí toi thiểu. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng các loại phương tiện hay cách thức toi ưu trong những điều kiện khan hiếm các nguồn lực. Phạm vi của mục đích này không chỉ có yếu tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhận) mà còn có cả yếu tố lợi ích tinh thần trong xã hội (Lê Ngọc Hùng, 2011).