CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày lý thuyết về thị trường lao động, việc làm, thất nghiệp và một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Lược khảo kết quả nghiên cứu của các đề tài, bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu và thiết kế mô hình nghiên cứu. Tổng quan lý thuyết 1. Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm 1.1 Lý thuyết của trường phái cổ điển: A.
Ricardo là một trong những người đầu tiên xây dựng trường phái lý thuyết cổ điển về lao động, việc làm, thất nghiệp. Trong học thuyết của mình họ xây dựng được cơ sở lý thuyết về giá trị lao động và đưa lao động lên tầm quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế. Học thuyết này đề cập đến các vấn đề như sản xuất hàng hóa, tiền lương, lợi nhuận và lợi tức, về sự điều tiết của thị trường, về sự can thiệp tối thiểu của nhà nước trong nền kinh tế. Phạm Đức Chính (2005), đã tổng kết rằng “Các nhà kinh tế cổ điển đặt ra rằng hệ thống thị trường tạo điều kiện đảm bảo sử dụng đầy đủ nguồn lực, trong số đó có nguồn lực sức lao động”.
Trường phái cổ điển khẳng định nền kinh tế thị trường phải đảm bảo được việc làm đầy đủ, không được để tình trạng thất nghiệp trong xã hội và nền kinh tế thị trường sẽ tự điều tiết nên sự can thiệp của nhà nước sẽ là dư thừa và có thể gây ra những hậu quả không tốt. Lý thuyết của trường phái tân cổ điển: Trường phái tân cổ điển được nhen nhóm vào những năm cuối thế kỷ XIX và Alfred Marshall (1842-1924) được xem là người sáng lập trường phái tân cổ điển vào những năm cuối của thế kỷ XIX. Ông cho rằng việc điều tiết cung cầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo việc làm cho xã hội. Marshall (1993) khẳng định “Khi cung và cầu ở trong tình trạng cân bằng bền vững, thì trong trường hợp, nếu khối lượng sản xuất nào đó được dịch chuyển khỏi trạng thái cân bằng của nó, các sức 7 mạnh nhanh chóng bắt đầu hoạt động thúc đẩy nó quay trở lại vị trí trước đây, cũng chính xác như khi hòn đá treo trên sợi dây di chuyển khỏi trạng thái cân bằng, nó sẽ lao nhanh trở lại vị trí cân bằng của mình”.
Ông cho rằng nền kinh tế thị trường sẽ tự điều tiết nền kinh tế và không xem trọng sự cần thiết của nhà nước trong việc điều tiết thị trường, về luận điểm này thì giống với luận điểm của các nhà kinh tế theo trường phái cổ điển là A. Arthur Pigou (1933), người kế tục và phát triển các học thuyết của A. Marshall đã công bố công trình “Lý thuyết thất nghiệp”. Ông cho rằng lương cao sẽ dẫn đến thất nghiệp, vì lương cao sẽ tốn thêm nhiều chi phí nhân công, từ đó làm tăng chi phí sản xuất nên sẽ làm giảm số lượng việc làm đi.
Do đó, muốn xác định được khối lượng việc làm thì cần có yếu tố tác dụng của cầu về lao động thực tế. Ông là người luôn ủng hộ “Lý thuyết thất nghiệp tự nguyện”, theo lý thuyết này thì số lượng việc làm là do cung cầu trên thị trường quyết định, do người lao động sẽ có quyền chọn từ chối làm việc do mức lương không xứng đáng với công sức họ bỏ ra. Nên sự cân đối giữa mức lương và việc làm sẽ giúp cho tình trạng thất nghiệp giảm, nói một cách khác là việc làm và thất nghiệp sẽ phụ thuộc vào mức lương (Phạm Đức Chính, 2005). Lý thuyết của Karl.Marx Trong lý thuyết việc làm của K.Marx, giá trị thặng dư là một trong những nhân tố chủ đạo.
Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xem sức lao động con người cũng là một loại hàng hóa, khi người công nhân đi làm thuê tức là đã bán hàng hóa sức lao động của mình cho ông chủ tư bản, trong quá trình lao động, người công nhân sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị sức lao động của mình. Do đó, người chủ sẽ nhận được một giá trị từ sức lao động và giá trị thặng dư của người công nhân, nhưng chỉ phải trả cho họ số tiền nhỏ hơn với giá trị sức lao động của họ tạo ra trong quá trình sản xuất (Phạm Đức Chính, 2005). Một nhân tố nữa đó là tăng trưởng cấu trúc vốn hữu cơ.Marx cấu trúc vốn bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, trong đó vốn cố định là giá trị tư liệu sản xuất, còn vốn lưu động chính là giá trị sức lao động, có nghĩa là tổng số lương. Nghĩa là việc tăng việc làm và tăng sản xuất sẽ làm tăng tổng lương.
Các nhà tư bản sẽ muốn 8 có lợi nhuận nhiều hơn tức là họ muốn gia tăng giá trị thặng dư nên họ quan tâm tới việc làm sao để giá thành sản phẩm của họ thấp hơn so với giá mặt bằng chung. Đòi hỏi phải nâng cao và đầu tư vào máy móc, kỹ thuật hiện đại, tăng chí phí cho giá trị tư liệu sản xuất. Mà máy móc hiện đại sẽ làm giảm nhu cầu thuê công nhân của các ông chủ tư bản, làm cho việc làm bị giảm, thất nghiệp tăng lên (Phạm Đức Chính, 2005). Lý thuyết của John Maynard Keynes: Lý thuyết về thị trường lao động: Theo Keynes trong điều kiện ngắn hạn, người lao động sẽ có ít khả năng tìm được việc làm, nên họ sẽ chấp nhận làm việc với mức lương không tương xứng với công sức bỏ ra.
Do đó, trong ngắn hạn, lượng lao động cân bằng là lượng do người chủ tư bản quy định, hay nói cách khác thì lượng cung lao động không phụ thuộc vào mức tiền lương thực tế họ được nhận, do người lao động đã chấp nhận bán sức lao động của mình cho nhà tư bản với một mức thấp hơn giá trị thực của nó và tiền lương họ được nhận cũng do người chủ quy định chứ không phụ thuộc vào người làm thuê. Tuy nhiên trong trung và dài hạn, khi thị trường nguồn nhân lực thật sự được hình thành thì người làm thuê sẽ được trả lương đúng với giá trị công sức mình đã bỏ ra, vì sức lao động được phân phối theo cơ chế thị trường nên các yếu tố tham gia vào đều có ý nghĩa và vai trò quyết định như nhau (Phạm Đức Chính, 2005). Lý thuyết về việc làm và thất nghiệp Keynes đã đưa ra một giả định khác với trường phái tân cổ điển đó là thu nhập của người lao động và giá cả có mối liên hệ với nhau. Có nghĩa là nền kinh tế luôn ở trong tình trạng mất cân đối thường xuyên, để cố gắng cân bằng giữa mức lương người lao động mong muốn và mức lương các ông chủ chấp nhận trả cho người lao động.
Nếu tỷ lệ thất nghiệp giảm thì nguồn cung lao động sẽ giảm do số lượng người đi tìm việc ít, nên các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất sẽ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm người làm, dẫn đến tiền lương sẽ tăng lên. Đến một mức nào đó, các ông chủ sẽ không thể trả hoặc không chấp nhận trả mức lương mà người lao động đòi hỏi, họ sẽ không tuyển thêm nhân sự nữa (Phạm Đức Chính, 2005). 9 Theo Keynes, các ông chủ sẽ gặp khó khăn trong việc đàm phán với người lao động để giảm tiền lương, chỉ khi có biến động nào đó làm cho tiền lương trong toàn bộ nền kinh tế giảm xuống hoặc nền kinh tế xảy ra hiện tượng giảm phát thì người lao động mới chấp nhận giảm thu nhập. Do vậy, muốn tăng số lượng việc làm thì phải chấp nhận giảm lương thực tế.
Tuy nhiên, khi xảy ra điều này, có thể làm cho nền kinh tế phải hứng chịu một cuộc suy thoái nặng nề hơn, làm cho tâm lý người lao động không ổn định và lo sợ, dẫn đến tổng cầu trong nền kinh tế sẽ bị sụt giảm. Lý thuyết về việc làm của Keynes được xây dựng dựa trên các giả định đúng với các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các nước đang phát triển. Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ bản để gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao. Ở các nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm phát.
Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm không luôn đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho khu vực thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia tăng. Điều này có thể làm suy giảm việc làm và sản lượng quốc dân của cả nước. Lý thuyết thị trường lao động, việc làm và thất nghiệp của Keynes đã đưa ra được giải pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là phải sử dụng có hiệu quả đối với nguồn nhân lực, vì việc làm và thất nghiệp là hai vấn đề không chỉ liên quan đến thu nhập của cá nhân, cầu tiêu dùng mà còn liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực kinh tế.
Trong lý thuyết này, Keynes cho rằng muốn khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế, xây dựng nền kinh tế ổn định, tạo thêm được nhiều việc làm, kích thích đầu tư tư nhân thì cần mở rộng đầu tư của các chủ thể trong nền kinh tế. Vai trò kinh tế của Nhà nước được Keynes rất coi trọng, muốn giải quyết được số lượng việc làm và tình trạng thất nghiệp thì không thể thả cơ chế thị trường tự do, mà Nhà nước phải thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm dân cư và dân số: 10 Theo Tổng cục Thống kê, dân cư là tập hợp những con người cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định.
Lãnh thổ ở đây có thể là một xã, một huyện, một tỉnh, một nước, một châu lục hay toàn bộ trái đất. Để hiểu rõ hơn về một dân cư, người ta lại phân chia tổng số dân thành nhiều nhóm nhỏ khác nhau căn cứ trên những tiêu thức nhất định nào đó. Dân số là dân cư được xem xét dưới hai góc độ là quy mô và cơ cấu. Quy mô dân số được hiểu là tổng số dân sinh sống trên một vùng lãnh thổ vào một thời điểm xác định; Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng lãnh thổ thành các nhóm, các bộ phận theo một hay nhiều tiêu thức.