CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ 1. Khái niệm giấc ngủ Về mặt sinh lý, giấc ngủ là trạng thái tự nhiên của cơ thể nhằm đảm bảo cho các tế bào thần kinh được nghỉ ngơi và phục hồi chức năng [12]. Về mặt hành vi, giấc ngủ là một trạng thái đảo ngược của nhận thức, dần dần buông bỏ và không đáp ứng với môi trường xung quanh, điển hình với tư thế nằm xuống, hành vi yên lặng và mắt nhắm lại.
Trong trường hợp bất thường, các hành vi khác như mộng du, nghiến răng, nói mớ hoặc các hoạt động thể chất khác có thể xảy ra trong khi ngủ [12]. Vai trò của giấc ngủ Giấc ngủ giữ một vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe, tái tạo năng lượng và phục hồi sau một ngày làm việc. Mỗi giai đoạn của giấc ngủ sẽ mang lại những lợi ích khác nhau [13]. Giấc ngủ còn có tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống, các chức năng của cơ thể và cân bằng nội môi [14].
Chất lượng giấc ngủ 1. Khái niệm chất lượng giấc ngủ “Chất lượng giấc ngủ” là thuật ngữ được sử dụng nhất quán trong các ngành liên quan đến sức khỏe, chủ yếu là tâm lý học, y học và điều dưỡng [15]. Chất lượng giấc ngủ là một khái niệm thường được xác định bởi chính người ngủ [16]. Chất lượng giấc ngủ tốt được định nghĩa là một người “cảm thấy sảng khoái” sau khi thức dậy, giấc ngủ đảm bảo đầy đủ về chất lượng, số lượng, thời gian; và khi ngủ dậy, người ta cảm thấy khoan khoái dễ chịu cả về thể chất lẫn tinh thần [17].
Thuộc tính của chất lượng giấc ngủ Dựa trên các tài liệu hiện có, 6 thuộc tính của CLGN được rút ra gồm: Độ trễ: là khoảng thời gian cần thiết để chuyển từ trạng thái tỉnh táo sang ngủ. Độ trễ của giấc ngủ từ 16 đến 30 phút được coi là CLGN tốt, lớn hơn 45 phút được coi là CLGN kém [18]. Thời lượng ngủ: là tổng thời lượng ngủ trừ đi thời gian kích thích. Trẻ em trong độ tuổi đi học nên ngủ từ 9 đến 12 giờ vào ban đêm [19].
Thời lượng giấc ngủ là thước đo khách quan và chủ quan của giấc ngủ [20]. Hiệu quả giấc ngủ: là tỉ số giữa tổng thời gian dành cho giấc ngủ so với tổng thời gian trên giường. Nếu một đứa trẻ có hiệu quả giấc ngủ dưới 74%, đứa trẻ đó được cho là có CLGN kém [18]. Rối loạn giấc ngủ: Rối loạn giấc ngủ có thể là sự kết hợp của các lần xuất hiện trước hoặc trong khi ngủ làm ức chế giấc ngủ, dẫn đến kích thích hoặc các phản ứng sinh lý.
Rối loạn có thể bao gồm: thức giấc sau khi ngủ; cử động chân tay theo chu kỳ, gặp ác mộng, mộng du và thở rối loạn giấc ngủ (tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ, tắc nghẽn đường thở gây ngừng thở hơn 10 giây). Một số yếu tố bên ngoài như thuốc hoặc tiếp xúc quá nhiều với các thiết bị điện tử trước khi ngủ có thể dẫn đến những rối loạn này [21]. Buồn ngủ ban ngày/rối loạn chức năng: Định nghĩa về chứng buồn ngủ ban ngày và rối loạn chức năng là sự xuất hiện của cảm giác buồn ngủ hoặc trở nên mệt mỏi trong khi làm các công việc hàng ngày [22]. Giờ đi ngủ: là thời gian vào ban đêm mà một người dự định lên giường với ý định ngủ.
Khi một người đi ngủ, điều đó không nhất thiết có nghĩa là họ ngay lập tức chìm vào giấc ngủ [20]. Ảnh hưởng của chất lượng giấc ngủ kém Chất lượng giấc ngủ kém được chứng minh có liên quan đến tăng nguy cơ béo phì, các vấn đề về hành vi và kết quả học tập kém ở học sinh tiểu học 5 [23]. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các vấn đề về giấc ngủ chẳng hạn như khó ngủ, mất ngủ và thiếu ngủ có liên quan đến lo âu, trầm cảm, rối loạn thiếu chú ý/tăng động giảm chú ý và ý định tự tử [24]. Một nghiên cứu thực hiện tại Đài Bắc Trung Quốc (2017) báo cáo rằng những người có hội chứng ngưng thở khi ngủ làm tăng nguy cơ mắc các biến cố tim mạch có hại cao gấp 1,95 lần so với nhóm còn lại [25].
Rối loạn giấc ngủ Rối loạn giấc ngủ (RLGN) được đặc trưng bởi sự không hài lòng mạn tính về số lượng hoặc CLGN. Rối loạn giấc ngủ có liên quan đến việc khó đi vào giấc ngủ, thường xuyên thức giấc vào ban đêm, khó ngủ trở lại hoặc thức dậy vào buổi sáng sớm hơn mong muốn và có liên quan đến sự suy giảm chức năng ban ngày [26]. Phân loại Quốc tế về Rối loạn giấc ngủ đã chia các RLGN thành sáu nhóm chính [27] bao gồm: mất ngủ, các rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ, ngủ nhiều trung ương, rối loạn nhịp thức-ngủ, các rối loạn cận giấc ngủ, các rối loạn vận động liên quan đến giấc ngủ. Trong đó, rối loạn hô hấp liên quan đến giấc ngủ được phân ra thành các nhóm nhỏ hơn gồm: - Ngừng thở khi ngủ tiên phát ở trẻ em - Hội chứng ngừng thở trung ương khi ngủ - Hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ + Hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ ở người lớn + Hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ ở trẻ em - Hội chứng giảm thông khí/giảm oxy liên quan đến giấc ngủ - Hội chứng rối loạn hô hấp khác liên quan đến giấc ngủ 1.
Thời lượng ngủ khuyến cáo Theo Học viện Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ về thời lượng ngủ cần thiết để tăng cường sức khoẻ tối ưu, đối với những người khoẻ mạnh có giấc ngủ bình 6 thường, thời lượng ngủ thích hợp trong 24 giờ (bao gồm cả giấc ngủ ngắn) được khuyến nghị cụ thể như sau [28]: Bảng 1. Thời lượng ngủ khuyến cáo Đối tượng Tuổi Thời lượng ngủ khuyến cáo Trẻ sơ sinh 4 – 12 tháng 12 – 16 giờ 1 – 2 tuổi 11 – 14 giờ Trẻ em 3 – 5 tuổi 10 – 13 giờ 6 – 12 tuổi 9 – 12 giờ Thanh thiếu niên 13 – 18 tuổi 8 – 10 giờ Người trưởng thành 18 – 60 tuổi 7 – 9 giờ Người già > 60 tuổi 7 – 8 giờ 1. Công cụ đánh giá chất lượng giấc ngủ Nhiều công cụ khác nhau đã được phát triển để đo CLGN, mất ngủ và buồn ngủ ban ngày, nhưng công cụ được sử dụng rộng rãi nhất là Chỉ số Chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI). Tô Minh Ngọc (2013) đã thực hiện nghiên cứu về độ tin cậy và tính giá trị của chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh phiên bản Tiếng Việt để có thể đánh giá một cách chính xác về độ tin cậy và độ đặc hiệu của thang đo PSQI tại Việt Nam.
Nghiên cứu cho kết quả hệ số Cronbachs alpha là 0,789 và độ tin cậy lặp lại khá tốt; độ nhạy và độ đặc hiệu tại điểm cắt 5 là 87,8% và 75% khi đánh giá CLGN trên đối tượng là người Việt Nam [16]. Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo PSQI đã được chuẩn hoá sang tiếng Việt của tác giả Tô Minh Ngọc [16]. PSQI là một công cụ gồm 19 mục đánh giá CLGN trong thời gian một tháng. Điểm PSQI có thể nằm trong khoảng từ 0 đến 21, trong đó điểm lớn hơn cho thấy CLGN kém hơn.
Chúng tôi sử dụng điểm số toàn cầu PSQI > 5, có độ nhạy là 89,6% và độ đặc hiệu là 86,5% [15] để xác định xem học sinh có đáp ứng các tiêu chí về CLGN kém hay không. Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, người dùng cá nhân và chính phủ trên toàn cầu. Nghiện Internet Nghiện: Theo Hiệp hội Y học Nghiện Hoa Kỳ, nghiện là “một căn bệnh mãn tính có thể điều trị được, liên quan đến những tương tác phức tạp giữa các mạch não, di truyền, môi trường và kinh nghiệm sống của một cá nhân. Người nghiện sử dụng chất kích thích hoặc tham gia vào các hành vi trở nên cưỡng chế, thường xuyên tiếp diễn bất chấp những hậu quả có hại” [29].
Nghiện Internet: là hành vi dùng lặp đi lặp lại và liên tục các tính năng của Internet dẫn đến sự phụ thuộc bất chấp những hậu quả về sức khỏe, tinh thần và cuộc sống của người sử dụng [30]. Phân loại nghiện Internet Nghiện Internet bao gồm nhiều loại vấn đề thuộc về kiểm soát xung động. Young đưa ra các loại chính như sau: nghiện tình dục Internet, nghiện mối quan hệ - máy tính, những cưỡng bức mạng, quá tải thông tin và nghiện máy vi tính [31]. Nghiện tình dục Internet: là sử dụng quá mức các trang web người lớn về tình dục làm ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ ngoài đời thực.
Người nghiện Internet sẽ tăng thời gian trực tuyến để tham gia vào hoạt động tình dục. Nghiện giao tiếp trên mạng: người nghiện Internet bị lôi cuốn quá mức vào các mối quan hệ trên mạng, thậm chí là quan hệ ảo. 8 Những cưỡng bức mạng: loại hình này có thể được khái quát bằng những hành vi có tính bị cưỡng bức; ví dụ như hành vi đánh bạc, mua sắm trực tuyến,.những thứ này tập trung vào việc chiến thắng, gây ra vấn đề về mặt tài chính, mối quan hệ và công việc của người sử dụng. Quá tải thông tin: sự phong phú về dữ liệu có sẵn của Internet đã tạo ra một kiểu mới về hành vi cưỡng bức liên quan đến nghiện Internet quá mức.
Nghiện Internet trong trường hợp này khiến người dùng phải dành nhiều thời gian hơn cho việc tìm kiếm và sưu tầm tài liệu trên mạng một cách thôi thúc. Nghiện máy vi tính: là sử dụng máy tính một cách quá mức hoặc có tính chất cưỡng bức, dai dẳng bất kể hậu quả tiêu cực cho cá nhân, xã hội. Khái niệm nghiện máy vi tính được chấp nhận rộng rãi chia làm hai loại là nghiện máy vi tính online và nghiện máy vi tính offline. Nghiện máy vi tính online cũng chính là nghiện Internet và nói chung nó được chú ý nhiều trong nghiên cứu khoa học hơn là nghiện máy vi tính offline.
Tác hại của nghiện Internet Bên cạnh những lợi ích mà Internet mang lại, chúng ta không thể phủ nhận những tác hại mà nó gây ra do lạm dụng hay thậm chí là nghiện Internet. Theo một nghiên cứu của Yuan K, sử dụng Internet quá mức có thể dẫn đến teo chất xám, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng tập trung và cản trở khả năng ra quyết định [32].