Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh thận mạn (Chronic Kidney Disease - CKD) là một vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu với tỷ lệ mắc ước tính từ 10% đến 14% dân số thế giới. Năm 2015, bệnh thận mạn là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 12 với 1,1 triệu ca, và tỷ lệ tử vong liên quan đến căn bệnh này gia tăng 33,70% trong giai đoạn 2007–2017. Bệnh lý này không chỉ làm tăng nguy cơ biến cố tim mạch cao gấp 8 đến 10 lần mà còn kéo theo gánh nặng tài chính nặng nề cùng sự suy giảm nghiêm trọng chức năng thể chất và tinh thần. Tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc tiếp cận điều trị thay thế thận còn nhiều khó khăn, khiến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người bệnh chịu nhiều tác động bất lợi.

Khóa luận tốt nghiệp ngành Điều dưỡng của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, năm 2023) với đề tài "Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2023" được triển khai nhằm cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác lập kế hoạch chăm sóc và can thiệp điều dưỡng.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua hai mục tiêu đánh số theo văn bản:

  1. Mô tả thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2023.
  2. Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2023.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh đã được chẩn đoán suy thận mạn theo tiêu chuẩn KDIGO 2012, có thời gian điều trị tối thiểu 1 năm, có đủ năng lực nhận thức và giao tiếp, đồng ý tham gia nghiên cứu. Nghiên cứu loại trừ những bệnh nhân đang trong tình trạng bệnh nặng, nguy kịch.
  • Phạm vi không gian: Khoa Nội thận - Tiết niệu, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 4/2023 đến tháng 5/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các định nghĩa chuyên ngành và khung phân loại bệnh học chuẩn quốc tế:

  • Khái niệm và chẩn đoán suy thận mạn: Văn bản vận dụng định nghĩa suy thận mạn là hậu quả không thể hồi phục của các bệnh lý thận mạn tính. Chẩn đoán xác định dựa trên tiêu chuẩn KDIGO 2012 với tổn thương thận (albumin niệu > 30 mg/g hoặc > 30 mg/24h, bất thường cặn nước tiểu, rối loạn điện giải, bất thường mô bệnh học/hình ảnh học hoặc ghép thận) hoặc mức lọc cầu thận (GFR) < 60 ml/phút/1,73 m² kéo dài trên 3 tháng. Các công thức ước tính GFR được trích dẫn gồm Cockcroft - Gault và MDRD hiệu chỉnh. Phân chia giai đoạn bệnh dựa trên hệ thống phân loại của NKF-KDOQI 2002 (5 giai đoạn) và KDIGO 2012 (tách giai đoạn 3 thành 3a và 3b).
  • Khái niệm chất lượng cuộc sống: Dựa trên định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (CLCS-SK).
  • Khung phân loại mức sống kinh tế: Áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 theo Điều 3 Nghị định 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu và công cụ thu thập:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Cỡ mẫu tính theo công thức ước tính một giá trị trung bình định lượng với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), sai số biên $d = 6$ điểm và độ lệch chuẩn $\sigma = 24,75$ (tham chiếu theo nghiên cứu của Ron D. Hays và cộng sự năm 1995). Cỡ mẫu lý thuyết tính toán là $n = 69$. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu thuận tiện cho đến khi đủ cỡ mẫu theo tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ.
  • Công cụ đo lường: Bộ câu hỏi KDQOL-SF™ phiên bản 1.3 (Kidney Disease Quality of Life - Short Form) được RAND công bố năm 1997, chuyển ngữ và hiệu chỉnh dựa trên nghiên cứu của Lê Thị Huyền (2016). Cấu trúc gồm 80 câu hỏi phân bổ trên 19 lĩnh vực:
    • Thang đo sức khỏe chung SF-36 (36 câu) tạo thành hai hợp phần: Sức khỏe thể chất (SKTC - gồm 4 lĩnh vực: Hoạt động thể chất, Hạn chế do thể chất, Cảm nhận đau đớn, Tự đánh giá sức khỏe tổng quát) và Sức khỏe tinh thần (SKTT - gồm 4 lĩnh vực: Cảm nhận cuộc sống, Hoạt động xã hội, Hạn chế do tinh thần, Sức khỏe tâm thần tổng quát).
    • Thang đo đặc thù bệnh thận gồm 11 lĩnh vực (43 câu): Các triệu chứng, Ảnh hưởng của bệnh thận, Gánh nặng bệnh thận, Tình trạng công việc, Chức năng nhận thức, Tương tác xã hội, Chức năng tình dục, Giấc ngủ, Hỗ trợ xã hội, Hỗ trợ của nhân viên lọc máu, Sự hài lòng của người bệnh.
  • Quy chuẩn đánh giá: Điểm số thô được mã hóa và quy đổi tuyến tính về thang điểm 0–100. Điểm số càng cao phản ánh chất lượng cuộc sống càng tốt. Phân loại mức độ CLCS dựa trên nghiên cứu của Silveira CB và cộng sự (2010) theo 4 phân vị: 0–25 điểm (Kém), 26–50 điểm (Trung bình), 51–75 điểm (Trung bình khá), 76–100 điểm (Khá tốt).
  • Phân tích số liệu: Dữ liệu được làm sạch, quản lý và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
  • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định thông qua, được Ban Giám đốc và lãnh đạo Khoa Nội thận - Tiết niệu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định phê duyệt; người bệnh tự nguyện ký cam đoan tham gia sau khi được giải thích rõ mục đích nghiên cứu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa y văn về bệnh học suy thận mạn và đo lường CLCS:

  • Tổng quan bệnh học suy thận mạn: Trình bày nguyên nhân hàng đầu (viêm cầu thận mạn 40%, viêm thận bể thận mạn 30%, bệnh lý mạch máu, đái tháo đường, gout), hội chứng lâm sàng (phù, đái ít, tăng huyết áp chiếm 80%, thiếu máu, hội chứng ure máu cao ảnh hưởng đa cơ quan) và cận lâm sàng (tăng ure, creatinin máu, toan chuyển hóa, rối loạn điện giải). Nêu rõ nguyên tắc điều trị bảo tồn (chế độ ăn giảm muối, hạn chế protid 1g/kg/24h, hạn chế nước, kiểm soát kali) và điều trị thay thế (thận nhân tạo chu kỳ, lọc màng bụng, ghép thận).
  • Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống: Phân biệt khái niệm CLCS chung và CLCS liên quan đến sức khỏe; cấu trúc chi tiết và nguyên lý tính điểm của thang đo KDQOL-SF™ 1.3.
  • Tổng quan nghiên cứu thực tiễn:
    • Nghiên cứu quốc tế: Moura và cộng sự (2015, Bồ Đào Nha) ghi nhận điểm SF-36 trung bình đạt 53,17 ± 15,31 (thể chất: 49,75 ± 9,44; tinh thần: 50,17 ± 9,51). Srijana Ghimire và Milan Lopchan (2017, Nepal) ghi nhận điểm CLCS là 57,45 ± 16,25 (thể chất: 55,72 ± 22,41; tinh thần: 60,04 ± 11). Nghiên cứu của Belayneh Kefale (2019, Ethiopia) báo cáo điểm thể chất 38,1 ± 9,5 và tinh thần 46,0 ± 9,0. Nghiên cứu của Mahato (2020) chỉ ra tỷ lệ CLCS tốt ở lĩnh vực thể chất đạt 53,64%, tinh thần đạt 22,05%.
    • Nghiên cứu trong nước: Lê Việt Thắng và Nguyễn Văn Hùng (2012) tại Bệnh viện Quân y 103 ghi nhận 75,9% người bệnh có CLCS thấp (điểm SF-36 trung bình 40,78 ± 19,37). Nguyễn Dũng và Vũ Văn Thắng (2014) tại Bình Định ghi nhận điểm trung bình là 50,31 ± 0,67. Phạm Minh Khuê và cộng sự (2022) tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh chỉ ra điểm CLCS trung bình là 39,08 ± 6,98 (79,6% trung bình kém). Trần Tất Thắng và Hoàng Thị Thành (2023) tại Nghệ An ghi nhận điểm SF-36 trung bình đạt 36,48 ± 11,17 (66% trung bình kém, chỉ 0,67% khá).

Chương 2: Liên hệ thực tiễn

Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu thu thập được trên mẫu 69 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định:

Đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng:

  • Nhân khẩu: Nam giới chiếm 65,2% (45 người), nữ giới chiếm 34,8% (24 người). Độ tuổi trung bình là 63,52 ± 1,56 tuổi (dải tuổi từ 27 đến 89 tuổi); nhóm 61–70 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (36,2%), nhóm > 70 tuổi chiếm 29,0%. Đa số sinh sống tại nông thôn (82,6%), trình độ học vấn chủ yếu là trung học cơ sở (65,2%), nhóm có hoàn cảnh kinh tế trung bình chiếm 58,0%, nhóm không có điều kiện chiếm 42,0% (không có người bệnh thuộc diện khá). Tỷ lệ có thẻ BHYT đạt 97,1%.
  • Bệnh lý: Thời gian phát hiện bệnh dưới 5 năm chiếm 88,4%. Đáng chú ý, có 42,0% người bệnh không biết rõ giai đoạn suy thận mạn của bản thân; nhóm biết giai đoạn tập trung chủ yếu ở giai đoạn cuối đang lọc máu chu kỳ (40,6%). Tỷ lệ bệnh đồng mắc rất cao: tăng huyết áp chiếm 82,6%, các bệnh cơ xương khớp/gout mạn chiếm 59,4%, đái tháo đường và bệnh tim cùng chiếm 30,4%.

Điểm số các khía cạnh chất lượng cuộc sống:

  • Điểm CLCS tổng quát (SF-36) đạt mức rất thấp: $23,79 \pm 11,21$ điểm (thấp nhất 8,44; cao nhất 59,6 điểm).
  • Điểm hợp phần Sức khỏe thể chất (SKTC) đạt $16,29 \pm 1,71$ điểm. Trong đó, điểm cảm nhận đau đớn đạt cao nhất ($22,5 \pm 18,59$), tiếp đến là hoạt động thể chất ($19,2 \pm 22,57$), tự đánh giá sức khỏe ($11,41 \pm 9,52$) và thấp nhất là hạn chế do vai trò thể chất ($9,42 \pm 21,91$).
  • Điểm hợp phần Sức khỏe tinh thần (SKTT) đạt $31,28 \pm 9,79$ điểm. Trong đó, cảm nhận cuộc sống đạt cao nhất ($42,49 \pm 12,63$), sức khỏe tâm thần tổng quát đạt $39,71 \pm 18,35$, hạn chế do vai trò tinh thần đạt $35,69 \pm 18,35$ và điểm hoạt động xã hội thấp nhất ($7,25 \pm 17,03$).
  • Phân loại mức độ CLCS: Mức độ Kém chiếm 65,2% (45 người); mức độ Trung bình kém chiếm 31,9% (22 người); mức độ Trung bình khá chỉ chiếm 2,9% (2 người); không có bệnh nhân nào đạt mức Khá tốt.
  • Các vấn đề bệnh thận: Nhóm không lọc máu có điểm tổng thể ($52,48 \pm 11,86$) cao hơn nhóm có lọc máu ($49,74 \pm 10,19$). Lĩnh vực ghi nhận điểm cao nhất là sự hỗ trợ của nhân viên lọc máu ($92,42 \pm 13,24$) và hỗ trợ xã hội ($71,49 \pm 28,31$). Ngược lại, hai lĩnh vực suy thoái nặng nề nhất là chức năng tình dục ($9,6 \pm 18,33$) và tình trạng công việc ($10,15 \pm 26,59$).
Nội dung thang đo KDQOL-SF™ Điểm trung bình ($\bar{X} \pm SD$) Điểm nhỏ nhất (Min) Điểm lớn nhất (Max)
Sức khỏe thể chất (SKTC) 16,29 ± 1,71 0,00 70,00
- Hoạt động thể chất 19,20 ± 22,57 0,00 95,00
- Hạn chế do vai trò thể chất 9,42 ± 21,91 0,00 100,00
- Cảm nhận đau đớn 22,50 ± 18,59 0,00 80,00
- Tự đánh giá sức khỏe tổng quát 11,41 ± 9,52 0,00 38,00
Sức khỏe tinh thần (SKTT) 31,28 ± 9,79 16,88 60,42
- Cảm nhận cuộc sống 42,49 ± 12,63 20,00 72,00
- Hoạt động xã hội 7,25 ± 17,03 0,00 66,67
- Hạn chế do vai trò tinh thần 35,69 ± 18,35 0,00 87,50
- Sức khỏe tâm thần tổng quát 39,71 ± 18,35 20,00 50,00
Chất lượng cuộc sống tổng quát (SF-36) 23,79 ± 11,21 8,44 59,60
Lĩnh vực đặc thù bệnh thận tiêu biểu
- Hỗ trợ của nhân viên lọc máu 92,42 ± 13,24 50,00 100,00
- Chức năng nhận thức 72,75 ± 29,26 20,00 100,00
- Sự hài lòng của người bệnh 72,22 ± 24,18 16,67 100,00
- Hỗ trợ xã hội 71,49 ± 28,31 0,00 100,00
- Gánh nặng của bệnh thận 27,72 ± 23,52 0,00 87,50
- Tình trạng công việc 10,15 ± 26,59 0,00 100,00
- Chức năng tình dục 9,60 ± 18,33 0,00 75,00

Mối liên quan giữa điểm số CLCS và các đặc điểm đối tượng nghiên cứu:

  • Yếu tố có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$):
    • Tuổi: Có mối liên quan nghịch biến với SKTC ($p = 0,012$) và SF-36 tổng quát ($p = 0,025$). Nhóm $\le 50$ tuổi có điểm SF-36 đạt $30,63 \pm 11,28$, giảm xuống $18,75 \pm 11,21$ ở nhóm $> 70$ tuổi. SKTT không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê theo tuổi ($p = 0,132$).
    • Giới tính: Điểm số của nam giới cao hơn nữ giới trên toàn bộ các hợp phần: SKTC đạt $18,84 \pm 15,6$ so với $11,48 \pm 9,5$ ($p = 0,018$); SKTT đạt $33,82 \pm 9,56$ so với $26,52 \pm 8,49$ ($p = 0,003$); điểm SF-36 đạt $26,34 \pm 11,6$ so với $19,01 \pm 8,8$ ($p = 0,009$).
    • Trình độ học vấn: Nhóm có trình độ $\ge$ THPT có điểm số cao hơn nhóm có trình độ < THPT ở cả SKTC ($23,47$ so với $12,93$; $p = 0,003$), SKTT ($35,67$ so với $29,23$; $p = 0,01$) và SF-36 tổng quát ($29,57$ so với $21,07$; $p = 0,003$).
    • Tình trạng hôn nhân: Nhóm đã kết hôn có điểm SKTT ($32,51 \pm 10,12$) và điểm SF-36 ($25,21 \pm 11,47$) cao hơn nhóm chưa kết hôn/ly hôn/góa ($26,45 \pm 6,64$ và $18,21 \pm 8,27$) với $p$ lần lượt là $0,038$ và $0,036$. Sự khác biệt về SKTC chưa có ý nghĩa thống kê ($p = 0,061$).
    • Điều kiện kinh tế: Nhóm kinh tế trung bình có điểm SKTC ($19,45 \pm 16,49$) và điểm SF-36 ($26,26 \pm 12,85$) cao hơn rõ rệt nhóm không có điều kiện ($11,91 \pm 8,65$ và $20,36 \pm 7,36$) với $p$ lần lượt là $0,017$ và $0,019$. Không thấy khác biệt ở SKTT ($p = 0,73$).
  • Yếu tố không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$):
    • Nhóm nghề nghiệp: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với SKTC ($p = 0,063$), SKTT ($p = 0,300$) và SF-36 ($p = 0,100$).
    • Số năm mắc bệnh: Không có sự khác biệt giữa nhóm < 5 năm, 5–10 năm và > 10 năm ($p = 0,67$ đối với SKTC; $p = 0,93$ đối với SKTT; $p = 0,79$ đối với SF-36).
    • Giai đoạn suy thận: Không ghi nhận sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê giữa nhóm giai đoạn 1–4 và nhóm suy thận mạn có lọc máu chu kỳ ($p = 0,096$ đối với SKTC; $p = 0,217$ đối với SKTT; $p = 0,073$ đối với SF-36).

Chương 3: Bàn luận

Chương bàn luận phân tích chuyên sâu các hiện tượng lâm sàng và đối chiếu với y văn:

  • Biện giải mức điểm CLCS thấp: Điểm CLCS của mẫu nghiên cứu ($23,79 \pm 11,21$) thấp hơn đáng kể so với các nghiên cứu trong nước của Lê Thị Huyền năm 2016 ($43,6 \pm 11,3$), Phạm Minh Khuê năm 2022 ($39,08 \pm 6,98$), Nguyễn Thị Phương năm 2022 ($51,7 \pm 13,9$) và Trần Tất Thắng năm 2023 ($36,48 \pm 11,17$). Tác giả lý giải điều này xuất phát từ đặc trưng nhân khẩu học của quần thể nghiên cứu tại Nam Định: tuổi trung bình cao ($63,52 \pm 1,56$ tuổi, trong đó nhóm trên 60 tuổi chiếm tới 65,2%), tỷ lệ đa bệnh lý rất lớn (82,6% tăng huyết áp, 59,4% bệnh cơ xương khớp/gout, 30,4% đái tháo đường). Tuổi già kết hợp cùng các bệnh đồng mắc gây suy giảm năng lực vận động, teo cơ, cứng khớp và làm giảm dung nạp với các can thiệp lâm sàng.
  • Biện giải sự chênh lệch giữa thể chất và tinh thần: Điểm SKTT ($31,28$) cao hơn điểm SKTC ($16,29$). Theo tác giả, người bệnh suy thận mạn tiến triển lâu năm thường có tâm lý dần chấp nhận thực tế bệnh tật; đồng thời họ nhận được sự đùm bọc, chia sẻ từ gia đình, cùng các chính sách bảo hiểm y tế chi trả (97,1% có thẻ BHYT), từ đó giảm bớt gánh nặng tâm lý so với sự suy sụp chức năng thể xác.
  • Biện giải các khía cạnh đặc thù bệnh thận: Lĩnh vực hỗ trợ của nhân viên lọc máu đạt điểm rất cao ($92,42 \pm 13,24$) chứng minh thái độ phục vụ tận tụy và sự gắn kết chuyên môn giữa điều dưỡng với người bệnh chạy thận nhân tạo chu kỳ. Ngược lại, điểm số suy giảm nghiêm trọng ở lĩnh vực chức năng tình dục ($9,60$) và tình trạng công việc ($10,15$) phản ánh hệ quả sinh lý từ hội chứng ure máu cao, thiếu máu mạn tính, rối loạn nội tiết tố và tình trạng mất khả năng lao động tạo thu nhập ở bệnh nhân cao tuổi.
  • Biện giải các mối liên quan:
    • Giới tính: Nữ giới có điểm CLCS thấp hơn nam giới do cơ địa khối lượng cơ, mật độ xương thấp hơn, nguy cơ thiếu máu nặng hơn, đồng thời phụ nữ dễ chịu áp lực tâm lý tiêu cực về thay đổi ngoại hình và gánh nặng gia đình.
    • Học vấn và kinh tế: Người có học vấn $\ge$ THPT và kinh tế trung bình có năng lực tiếp cận kiến thức bệnh học, tuân thủ phác đồ dinh dưỡng, dùng thuốc và chi trả các chi phí phát sinh ngoài danh mục BHYT tốt hơn, dẫn đến CLCS cao hơn rõ rệt.
    • Hôn nhân: Bệnh nhân có vợ/chồng bên cạnh được hỗ trợ trực tiếp trong chăm sóc thể chất và nhận được sự giải tỏa áp lực tâm lý, tránh khỏi nguy cơ cô lập xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể và đề xuất các nhóm giải pháp can thiệp thực tế:

1. Các kết quả định lượng cốt lõi:

  • Xác định điểm CLCS tổng quát SF-36 trung bình của người bệnh suy thận mạn tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định là $23,79 \pm 11,21$ điểm; trong đó điểm SKTC là $16,29 \pm 1,71$ điểm và điểm SKTT là $31,28 \pm 9,79$ điểm.
  • Xác định phân bố mức độ CLCS: 65,2% người bệnh ở mức kém, 31,9% mức trung bình kém, 2,9% mức trung bình khá và 0% mức khá tốt.
  • Xác định 5 yếu tố có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) đến chất lượng cuộc sống: độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và điều kiện kinh tế.
  • Phát hiện 42,0% người bệnh suy thận mạn không biết rõ giai đoạn bệnh của mình.

2. Hệ thống giải pháp can thiệp do tác giả đề xuất:

  • Đối với nhân viên y tế (đặc biệt là điều dưỡng viên):
    • Thường xuyên tham gia các lớp đào tạo, tập huấn kỹ năng giao tiếp ứng xử và truyền thông giáo dục sức khỏe định kỳ hàng tháng/quý.
    • Giám sát chặt chẽ các chỉ số sinh tồn, đặc biệt là theo dõi huyết áp trước, trong và sau lọc máu nhằm phát hiện sớm biến chứng tụt hoặc tăng huyết áp kịch phát.
    • Thiết lập quy trình tư vấn giáo dục sức khỏe trước khi người bệnh ra viện: hướng dẫn chi tiết chế độ dùng thuốc, dinh dưỡng giảm muối, kiểm soát nước uống, cách tự theo dõi huyết áp tại nhà, phương pháp chăm sóc và kiểm tra độ rung cầu tay (FAV) để bảo tồn đường vào mạch máu.
  • Đối với người bệnh và gia đình:
    • Thực hiện chế độ ăn nhạt; hạn chế thực phẩm chế biến sẵn/đóng hộp; không uống thừa nước.
    • Hạn chế thực phẩm giàu kali (chuối, nho, sầu riêng) và thực phẩm nhiều vitamin C (cam, chanh, bưởi); ưu tiên sử dụng lòng trắng trứng gà, các loại khoai, sữa đậu nành.
    • Duy trì mức tăng cân giữa hai lần lọc máu không vượt quá 1,5 kg thể trọng.
    • Kiểm soát đường huyết mục tiêu dưới 7,0 mmol/l đối với bệnh nhân đái tháo đường và huyết áp dưới 140/90 mmHg.
    • Gia đình chủ động chia sẻ, hỗ trợ bệnh nhân trong các hoạt động sinh hoạt cá nhân hàng ngày để nâng đỡ tinh thần và cải thiện tuân thủ điều trị.

3. Đóng góp khoa học và thực tiễn: Nghiên cứu bổ sung bộ dữ liệu thực chứng chuyên biệt về CLCS của bệnh nhân suy thận mạn tại cơ sở y tế tuyến tỉnh (Nam Định), chỉ rõ các khoảng trống trong nhận thức bệnh tật của người bệnh (42% không biết giai đoạn bệnh) và sự sa sút đặc biệt trầm trọng ở chức năng thể chất và khả năng lao động. Đây là cơ sở khoa học để Khoa Nội thận - Tiết niệu hoàn thiện quy trình chăm sóc điều dưỡng toàn diện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số giới hạn và định hướng mở rộng:

  • Hạn chế: Cỡ mẫu nghiên cứu còn khiêm tốn ($n = 69$) và áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở bệnh viện duy nhất trong thời gian ngắn (tháng 4–5/2023), do đó tính đại diện chưa bao quát toàn bộ người bệnh tại cộng đồng. Ngoài ra, việc thu thập thông tin giai đoạn bệnh còn phụ thuộc vào sự ghi nhớ của người bệnh dẫn đến tỷ lệ "không biết" lên tới 42,0%. Tác giả cũng tự nhận định điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu ban đầu của bản thân còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, thiết kế chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng và kết hợp tra cứu hồ sơ bệnh án để thu thập chính xác các chỉ số cận lâm sàng (như mức lọc cầu thận eGFR, nồng độ hemoglobin, albumin máu, chỉ số Kt/V). Đồng thời, cần triển khai các nghiên cứu can thiệp điều dưỡng đánh giá hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe và hướng dẫn tập phục hồi chức năng chuyên biệt đối với việc cải thiện CLCS của bệnh nhân suy thận mạn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Điều dưỡng, Y đa khoa: Cung cấp tài liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu mô tả định lượng trong chăm sóc người bệnh mạn tính; hướng dẫn chi tiết cách mã hóa và quy đổi điểm số của bộ công cụ KDQOL-SF™ phiên bản 1.3 sang thang điểm 0–100.
  • Giảng viên và cán bộ nghiên cứu: Cung cấp số liệu tham khảo thực tế tại bệnh viện tuyến tỉnh để so sánh, đối chiếu với các nghiên cứu trong nước và quốc tế về gánh nặng bệnh thận mạn.
  • Điều dưỡng viên và cán bộ quản lý y tế lâm sàng: Bảng danh mục các yếu tố liên quan (tuổi, giới tính, học vấn, hôn nhân, kinh tế) và các hướng dẫn chăm sóc thực tế (kiểm soát cân nặng giữa hai lần lọc dưới 1,5 kg, bảo tồn cầu tay FAV, dinh dưỡng kiêng kali) có thể ứng dụng trực tiếp vào việc xây dựng bảng kiểm tư vấn giáo dục sức khỏe trước khi xuất viện tại các khoa thận học - lọc máu.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm chất lượng cuộc sống tổng quát SF-36 của người bệnh suy thận mạn trong nghiên cứu là bao nhiêu và phân loại mức độ ra sao?
Điểm chất lượng cuộc sống tổng quát SF-36 trung bình của 69 người bệnh là $23,79 \pm 11,21$ điểm (trên thang điểm 100). Đa số người bệnh xếp loại ở mức độ Kém (65,2%) và mức độ Trung bình kém (31,9%); chỉ có 2,9% người bệnh đạt mức Trung bình khá và không có người bệnh nào đạt mức Khá tốt.

2. Điểm số sức khỏe thể chất hay sức khỏe tinh thần của người bệnh cao hơn?
Điểm số Sức khỏe tinh thần ($31,28 \pm 9,79$) cao hơn rõ rệt so với điểm Sức khỏe thể chất ($16,29 \pm 1,71$). Khía cạnh có điểm thấp nhất trong hợp phần thể chất là Hạn chế do vai trò thể chất ($9,42 \pm 21,91$), trong khi khía cạnh cao nhất ở hợp phần tinh thần là Cảm nhận cuộc sống ($42,49 \pm 12,63$).

3. Trong các vấn đề đặc thù của bệnh thận, khía cạnh nào đạt điểm cao nhất và thấp nhất?
Lĩnh vực đạt điểm trung bình cao nhất là Hỗ trợ của nhân viên lọc máu ($92,42 \pm 13,24$) và Hỗ trợ xã hội ($71,49 \pm 28,31$). Ngược lại, hai lĩnh vực có điểm thấp nhất là Chức năng tình dục ($9,60 \pm 18,33$) và Tình trạng công việc ($10,15 \pm 26,59$).

4. Những yếu tố nhân khẩu học - xã hội nào có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với chất lượng cuộc sống?
Nghiên cứu ghi nhận 5 yếu tố có liên quan thống kê ($p < 0,05$) gồm:

  • Tuổi: Tuổi càng cao thì điểm sức khỏe thể chất và chất lượng cuộc sống tổng quát càng suy giảm ($p = 0,012$ và $p = 0,025$).
  • Giới tính: Nam giới có điểm chất lượng cuộc sống cao hơn nữ giới ($p = 0,009$).
  • Trình độ học vấn: Người có học vấn $\ge$ THPT có điểm CLCS cao hơn người có học vấn < THPT ($p = 0,003$).
  • Tình trạng hôn nhân: Người đã kết hôn có điểm sức khỏe tinh thần và CLCS cao hơn người chưa kết hôn/ly hôn/góa ($p = 0,038$ và $p = 0,036$).
  • Điều kiện kinh tế: Người có kinh tế trung bình có điểm CLCS cao hơn người không có điều kiện ($p = 0,019$).

5. Tác giả đưa ra khuyến nghị cụ thể nào về việc kiểm soát cân nặng giữa hai lần chạy thận nhân tạo?
Khóa luận khuyến nghị người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ cần kiểm soát việc ăn uống và lượng nước nạp vào, bảo đảm mức tăng cân giữa hai lần chạy thận không vượt quá 1,5 kg thể trọng để phòng ngừa biến chứng tim mạch và quá tải tuần hoàn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang đã phản ánh trung thực thực trạng suy giảm nghiêm trọng về chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2023, với điểm trung bình SF-36 chỉ đạt $23,79 \pm 11,21$ và có tới 97,1% người bệnh xếp loại ở mức kém và trung bình kém. Công trình làm sáng tỏ sự chênh lệch lớn giữa suy thoái thể chất ($16,29$) và duy trì tinh thần ($31,28$), đồng thời xác lập cơ sở thống kê khẳng định tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, hôn nhân và kinh tế là các yếu tố tác động trực tiếp đến CLCS. Những phát hiện thực chứng này cung cấp căn cứ thiết thực cho công tác lập kế hoạch can thiệp điều dưỡng, từ việc tăng cường tư vấn dinh dưỡng, kiểm soát huyết áp đến truyền thông nâng cao nhận thức bệnh tật cho bệnh nhân suy thận mạn.