CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ SUY TIM CẤP 1. Định nghĩa: Về mặt tên gọi hiện nay, nhiều thuật ngữ khác nhau đang được sử dụng trong y văn để chỉ suy tim cấp như: hội chứng suy tim cấp (acute heart failure syndromes – AHFSs), suy tim mất bù cấp (acute decompensated heart failure – ADHF), mất bù cấp của suy tim mạn (acute decompensation of chronic heart failure – ADCHF) hay nhập viện vì suy tim (hospitalization for heart failure – HHF). Trong nghiên cứu này, chúng tôi dùng thuật ngữ “suy tim cấp” để mô tả tình trạng xuất hiện, khởi phát và thay đổi một cách nhanh chóng các dấu hiệu và triệu chứng của suy tim, khiến bệnh nhân phải nhập viện để được điều trị sớm hay khẩn cấp.
Tính chất “cấp” có thể thay đổi, có thể diễn tiến trong vài phút-vài giờ, hay diễn tiến trong vài ngày – vài tuần [127]. Trong hầu hết các trường hợp, suy tim cấp thường xuất hiện do diễn tiến nặng hơn của suy tim mạn (bao gồm suy tim với phân suất tống máu giảm hay bảo tồn). Tuy nhiên, suy tim cấp cũng có thể là triệu chứng khởi phát đầu tiên trên một bệnh nhân không có tiền căn suy tim, do rất nhiều nguyên nhân là các bệnh lý hay rối loạn ảnh hưởng lên chức năng tim [127].1 Các yếu tố thúc đẩy và nguyên nhân của suy tim cấp [104] • Rối loạn nhịp nhanh hay bất thường dẫn truyền/nhịp chậm nặng • Hội chứng vành cấp • Biến chứng cơ học của hội chứng vành cấp (thủng vách liên thất, đứt dây chằng van hai lá, nhồi máu cơ tim thất phải) • Thuyên tắc phổi cấp • Cơn tăng huyết áp • Chèn ép tim • Bóc tách động mạch chủ. 5 • Các vấn đề liên quan phẫu thuật và chu phẫu • Bệnh cơ tim chu sinh • Nhiễm trùng (bao gồm viêm nội tâm mạc nhiễm trùng) • Đợt cấp COPD/hen • Thiếu máu • Rối loạn chức năng thận • Không tuân thủ điều trị/chế độ ăn • Do thầy thuốc (NSAIDS, corticosteroid, tương tác thuốc) • Tăng huyết áp không kiểm soát • Lạm dụng rượu hay thuốc Bệnh nhân suy tim cấp nhập viện thường có các bệnh đi kèm, những bệnh này có thể là yếu tố làm suy tim nặng hơn và cũng có thể là yếu tố làm phức tạp hơn chẩn đoán và điều trị.
Các tình trạng đi kèm thường gặp nhất là tăng huyết áp (2/3 số bệnh nhân), bệnh mạch vành (1/2 số bệnh nhân) và rối loạn lipid máu (1/3 số bệnh nhân) [5],[116]. Bên cạnh đó, đột quị, bệnh động mạch ngoại biên, bệnh thận mạn, đái tháo đường, COPD, rung nhĩ. cũng là những bệnh lý rất hay đi kèm trên cả bệnh nhân suy tim cấp và mạn [127]. Sinh lý bệnh suy tim cấp: [52] Suy tim cấp không phải là một bệnh, mà là một hội chứng lâm sàng đa dạng.
Sinh lý bệnh suy tim cấp khá phức tạp, trong đó, các cơ chế bệnh sinh có thể xảy ra chồng lấp lên nhau, tạo nên các bệnh cảnh lâm sàng từ nhẹ đến nặng. Một cách cụ thể, cơ chế xuất hiện các triệu chứng và dấu hiệu của suy tim cấp có thể được hình dung với ba nhóm yếu tố: yếu tố nền tảng, yếu tố thúc đẩy và các yếu tố khuyếch đại (Sơ đồ 1. Yếu tố nền tảng là chức năng và cấu trúc nền của tim, có thể là thất trái với chức năng bình thường, có thể có bệnh tim cấu trúc, và thường gặp hơn là suy tim mạn bù trừ. Các yếu tố nền tảng sẽ chịu tác động bởi các yếu tố thúc đẩy (tại tim hay ngoài tim).
Với những bệnh nhân yếu tố nền tảng bình thường, cần phải có yếu tố tổn thương đủ mạnh (ví dụ như viêm cơ tim) mới có thể gây ra triệu chứng lâm sàng suy tim cấp. Ngược lại, trên bệnh nhân đã có. 6 sẵn bất thường cấu trúc và/hoặc chức năng nhưng chưa có triệu chứng, chỉ cần một yếu tố kích thích yếu hơn như kiểm soát huyết áp kém, rung nhĩ, thiếu máu cơ tim. cũng có thể khởi phát suy tim cấp.
Còn đối với những bệnh nhân có tiền căn suy tim mạn bù trừ, việc không tuân thủ điều trị và chế độ ăn, sử dụng các thuốc như NSAIDS, thiazolidinediones, nhiễm trùng là các yếu tố thúc đẩy thường thấy gây ra mất bù cấp. Bất kể yếu tố nền và yếu tố thúc đẩy là gì, khi suy tim cấp xuất hiện, hàng loạt những cơ chế khuyếch đại sẽ xảy ra và duy trì kéo dài. Đó là những quá trình hoạt hoá hệ thần kinh thể dịch và đáp ứng viêm, tổn thương cơ tim tiến triển gây nặng hơn rối loạn chức năng tim, suy chức năng thận, cũng như ảnh hưởng tiêu cực lên hệ thống mạch máu ngoại biên. Tất cả góp phần làm nặng hơn và duy trì vòng xoắn bệnh lý các đợt suy tim cấp.
Sung huyết phổi hay sung huyết hệ thống do tăng áp lực tâm trương thất trái là biểu hiện lâm sàng chính của hầu hết bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp. Trước đây, suy tim cấp được nghĩ một cách đơn giản là do sự tăng dần thể tích nội mạch dẫn đến các dấu hiệu sung huyết, vì thế, điều trị lợi tiểu sẽ giúp bệnh nhân đạt được cân bằng nội môi trở lại. Cơ chế này mặc dù vẫn có thể xảy ra trên một số bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân không tuân thủ điều trị hạn chế muối và lợi tiểu. Song sung huyết vẫn có thể xảy ra trên những bệnh nhân tuân thủ tốt điều trị, và không phải bệnh nhân nào không tuân thủ điều trị cũng gây ra quá tải tuần hoàn.
Mặt khác, khi theo dõi huyết động xâm lấn trên những bệnh nhân suy tim, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng áp lực đổ đầy thất trái trên phần lớn bệnh nhân có thể tăng nhưng không đi kèm tăng cân đáng kể [172]. Vì vậy, rõ ràng là cơ chế tích tụ dịch trong lòng mạch là quá đơn giản. Hay nói cách khác, vai trò mạch máu (sự tái phân bố dịch) quan trọng hơn là tích tụ dịch trong cơ chế suy tim cấp. 7 Yếu tố nền tảng Bình thường Bệnh tim cấu trúc Suy tim mạn Yếu tố Tăng huyết áp, hội chứng vành cấp, nhiễm trùng, suy thận, thuốc, không tuân thủ điều trị thúc đẩy Yếu tố khuyếch Thần kinh Cơ tim Thận Mạch máu thể dịch đại -Giảm cung -Ứ muối, nước -Rối loạn chức -Kích hoạt hệ lượng tim -Tổn thương năng nội mạc RAAS -Rối loạn chức thận cấp -Tăng độ cứng -Kích hoạt hệ năng tâm trương -Kích hoạt hệ động mạch giao cảm -Tổn thương cơ RAAS -Co mạch -Viêm tim -Bất xứng hậu -Hở 2 lá tải-co bóp -Tính phụ thuộc -Tái phân bố giữa 2 tâm thất tuần hoàn -Nhịp nhanh -Rò rỉ mao mạch Tổn thương cơ Sung huyết quan đích Sơ đồ 1.1 Sinh lý bệnh của suy tim cấp [52] Một khái niệm quan trọng cần phải được làm rõ là sự khác biệt giữa sung huyết lâm sàng (clinical congestion) và sung huyết huyết động (hemodynamic congestion).
Một cách cụ thể, mặc dù bệnh nhân nhập viện với các triệu chứng lâm sàng của sung huyết hệ thống như khó thở, ran phổi, tăng áp lực tĩnh mạch cảnh, phù. nhưng tình trạng này thường đi sau một hiện tượng được gọi là sung huyết huyết động. Sung huyết huyết động được định nghĩa là có áp lực tâm trương thất trái tăng nhưng chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ ràng. Mặt khác, sung.
8 huyết lâm sàng có thể được cải thiện bằng điều trị chống sung huyết, nhưng sung huyết huyết động thì vẫn tiếp tục duy trì. Đây mới là yếu tố nguy cơ tử vong và tái nhập viện trên bệnh nhân suy tim cấp [147]. Có giả thiết cho rằng sung huyết huyết động cũng có thể góp phần làm tiến triển suy tim qua cơ chế kích hoạt hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) và hệ thần kinh giao cảm. Sự kích hoạt này có thể gây ra những đáp ứng phân tử trên cơ tim, bao gồm mất dần cơ tim và xơ hoá cơ tim.
Tăng áp lực tâm trương thất trái trong sung huyết huyết động bên cạnh việc làm giảm áp lực tưới máu mạch vành, gây ra thiếu máu cơ tim dưới nội mạc; đồng thời cũng gây ra thay đổi cấp tính cấu trúc thất trái (trở nên hình cầu nhiều hơn), gây hở van hai lá nặng hơn. Một cơ chế khác đóng vai trò trung tâm trong tiến trình sinh lý bệnh của suy tim cấp là chức năng cơ tim (tâm thu, tâm trương, hay cả hai). Suy giảm chức năng tâm thu và sự giảm đổ đầy hệ động mạch sẽ khởi phát một loạt những đáp ứng bù trừ trong giai đoạn sớm; nhưng khi các bất thường này diễn tiến kéo dài, các đáp ứng bù trừ này sẽ trở nên bất lợi, bao gồm kích hoạt hệ thần kinh giao cảm và trục RAAS. Kích hoạt RAAS gây co mạch, giữ muối – nước, tái phân bố dịch trong hệ mạch máu, làm tăng áp lực tâm trương, và gây ra các triệu chứng lâm sàng.
Trên bệnh nhân có tiền căn bệnh tim thiếu máu cục bộ, những bất thường ban đầu trong chức năng tâm thu có thể khởi đầu một vòng tròn bệnh lý dai dẳng từ giảm tưới máu mạch vành, tăng sức căng thành tim, đến việc làm nặng hơn rối loạn chức năng co bóp cơ tim. Mặc dù suy giảm chức năng tâm thu có vai trò khá rõ ràng trong sinh lý bệnh suy tim cấp, các dữ liệu dịch tễ học cho thấy khoảng một nửa bệnh nhân suy tim cấp có chức năng tâm thu thất trái bảo toàn. Tương tự, bất thường chức năng tâm trương vẫn hiện diện trên bệnh nhân có phân suất tống máu giảm. Rối loạn chức năng tâm trương liên quan đến tăng độ cứng và bất thường thư giãn chủ động thất trái trong thì tâm trương.
Tuy nhiên, nếu chỉ một mình suy tim tâm trương dường như không đủ gây ra suy tim cấp, nhưng chính bản thân nó là một yếu tố nền tảng thuận lợi để những yếu tố thúc đẩy khác (rung nhĩ, bệnh mạch. 9 vành, tăng huyết áp.) tác động lên và gây ra suy tim cấp. Tất cả các cơ chế này góp phần làm tăng áp lực tâm trương thất trái nhiều hơn, dẫn đến ứ trệ tuần hoàn ngược dòng ở phổi. Ngoài ra, một cơ chế khác cũng ít được chú ý trong sinh lý bệnh suy tim cấp là tính phụ thuộc giữa hai tâm thất.
Do sức cản của màng ngoài tim, sự căng dãn do tăng áp lực đổ đầy của một tâm thất sẽ dẫn đến sự đè ép trực tiếp và giảm đổ đầy thì tâm trương của tâm thất còn lại. Cơ chế này hay xảy ra trong các bệnh cảnh lâm sàng có suy thất phải đột ngột (thuyên tắc phổi, nhồi máu cơ tim thất phải.