Chương 1 TỔNG QUAN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫn đến bài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột. Theo định nghĩa của Tổ chức Y Tế thế giới (WHO) bệnh tiêu chảy là khi bệnh nhân có số lần đi phân lỏng nhiều hơn 3 lần mỗi ngày hoặc đi ngoài nhiều lần. Trên lâm sàng bệnh được chia thành 3 loại: tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài và lỵ [40].
Bộ Y tế đưa ra định nghĩa: Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng bất thường từ 3 lần trở lên trong 24 giờ (Chú ý: Quan trọng là tính chất lỏng của phân, vì nếu chỉ đi ngoài nhiều lần mà phân bình thường thì không phải là tiêu chảy. Ví dụ: một trẻ ỉa chảy 3 ngày liền, ngày thứ 4 trẻ không ỉa, rồi sau đó lại ỉa chảy trong 3 ngày nữa, sang ngày thứ 8 và ngày thứ 9 trẻ ỉa bình thường, như vây đợt tiêu chảy của trẻ là 7 ngày (3 + 1 + 3 = 7). Nếu ngày thứ 10 trẻ ỉa phân lỏng 4 lần là trẻ lại bắt đầu một đợt tiêu chảy mới. Bộ Y tế cũng đưa ra phân loại tiêu chảy như sau [15]: * Phân loại tiêu chảy + Phân loại tiêu chảy theo cơ chế bệnh sinh - Tiêu chảy xâm nhập: yếu tố gây bệnh xâm nhập vào liên bào ruột non, ruột già, nhân lên, gây phản ứng viêm và phá huỷ tế bào.
Các sản phẩm này bài tiết vào lòng ruột và gây tiêu chảy phân máu (Shigella, Coli xâm nhập, Coli xuất huyết, Campylobacter Jejuni, Salmonella, E. - Tiêu chảy thẩm thấu: Rotavirus, Giardia lamblia, Cryptosp-ordium bám dính vào niêm mạc ruột, gây tổn thương diềm bàn chải của các tế bào hấp thu ở ruột non, các chất thức ăn không tiêu hóa hết trong lòng ruột không được hấp thu hết sẽ làm tăng áp lực thẩm thấu, hút nước và điện giải vào lòng ruột, gây tiêu chảy và bất dung nạp các chất trong đó có Lactose. - Tiêu chảy do xuất tiết: phẩy khuẩn tả tiết độc tố ruột, không gây tổn thương đến hình thái tế bào mà tác động lên hẻm liên bào nhung mao làm tăng xuất tiết. Có thể cả tăng xuất tiết và giảm hấp thu.
4 + Phân loại tiêu chảy theo lâm sàng [46]: - Tiêu chảy cấp phân nước (bao gồm cả bệnh tả): Là đợt tiêu chảy cấp, thời gian không quá 14 ngày, thường khoảng 5 - 7 ngày, chiếm khoảng 80% tổng số các trường hợp tiêu chảy. Nguy hiểm chính là mất nước và điện giải. Gây giảm cân, thiếu hụt dinh dưỡng nếu không được tiếp tục nuôi dưỡng tốt. - Tiêu chảy cấp phân máu (hội chứng lỵ): Nguy hiểm chính là phá huỷ niêm mạc ruột và gây tình trạng nhiễm trùng, nhiễm độc.
Nguy cơ gây nhiễm khuẩn huyết, suy dinh dưỡng và gây mất nước. Chiếm khoảng 10% - 15%, có nơi chiếm 20% tổng số các trường hợp tiêu chảy. Do vị trí tổn thương của niêm mạc ruột nên tính chất phân có thể khác nhau, nếu tổn thương ở đoạn trên ống tiêu hóa (ruột non) thì phân có nhiều nước lẫn máu nhầy (như nước rửa thịt). Nếu tổn thương ở thấp (đại tràng) phân ít nước, nhiều nhầy máu, có kèm theo mót rặn, đau quặn [47].
- Tiêu chảy kéo dài là đợt tiêu chảy cấp kéo dài liên tục trên 14 ngày, chiếm khoảng 5% - 10% tổng số các trường hợp tiêu chảy. Nguy hiểm chính là gây suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn nặng ngoài đường ruột và mất nước. Thường phân không nhiều nước, mức độ nặng nhẹ thất thường, kèm theo rối loạn hấp thụ nặng hơn tiêu chảy cấp. Tiêu chảy kèm theo suy dinh dưỡng nặng (Marasmus hoặc Kwashiokor).
Nguy hiểm chính là nhiễm trùng toàn thân nặng, mất nước, suy tim, thiếu hụt vitamin và vi lượng. + Phân loại dựa vào nồng độ Natri máu: - Mất nước đẳng trương - Mất nước ưu trương (Tăng Na+ máu) - Mất nước nhược trương + Phân loại theo mức độ mất nước: - Mất dưới 5% trọng lượng cơ thể: chưa có dấu hiệu lâm sàng. - Mất từ 5 -10% trọng lượng cơ thể: gây mất nước từ trung bình đến nặng. - Mất trên 10% trọng lượng cơ thể: suy tuần hoàn nặng.
DỊCH TỄ HỌC 1. Đường lây truyền Các tác nhân gây bệnh tiêu chảy thường gây bệnh bằng con đường phân – miệng. Phân của trẻ bị bệnh tiêu chảy làm nhiễm bẩn thức ăn, nước uống. Trẻ khác sẽ bị tiêu chảy khi ăn uống phải loại thức ăn, nước uống này hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây.
Thang Long University Library 5 1. Tác nhân gây bệnh 1.1 Virus Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi. Ước tính có đến 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus.
Virus xâm nhâp vào trong liên bào ruột non, không ngừng nhân lên, phá huỷ cấu trúc liên bào, làm cùn nhung mao ruột, gây rối loạn men tiêu hoá đường Lactose của sữa mẹ, làm tăng xuất tiết nước và điên giải vào trong lòng ruột [1].2 Vi khuẩn Nhiều loại vi khuẩn có thể gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em [44]: - Coli đường ruột gây 25% tiêu chảy cấp. Có 5 nhóm gây bệnh là: + Coli sinh độc tố ruột (Enterotoxigenic Esherichia Coli). +Coli gây bệnh (Enterpathogenic Esherichia Coli). + Coli xâm nhâp (Enteroinvasive Esherichia Coli).
+ Coli gây chảy máu (Enterohemorhagia Esherichia Coli). Trong 5 loại trên, Coli sinh độc tố ruột (ETEC) là tác nhân quan trọng gây tiêu chảy cấp, phân toé nước ở người lớn và trẻ em ở các nước đang phát triển. ETEC không xâm nhâp vào niêm mạc ruột mà gây tiêu chảy bằng các độc tố không chịu nhiệt là LT (heat labile toxin) và độc tố chịu nhiêt ST (heat stable toxin) với cơ chế gần giống tả [48]. - Trực trùng lị Shigella: Trực trùng lị Shigella là tác nhân trong 60% các đợt lị.
Trong các đợt lị nặng có thể ỉa phân toé nước trong những ngày đầu bị bệnh. Trong 4 nhóm huyết thanh S. Sonei, nhóm phổ biến nhất tại các nước đang phát triển là S. Jejuni gây bệnh chủ yếu ở trẻ nhỏ, lây qua tiếp xúc với phân, uống nước bẩn, ăn sữa và thực phẩm bị ô nhiễm.
Jejun i gây tiêu chảy toé nước ở 2/3 trường hợp và gây nên hội chứng lị có sốt ở 1/3 số trường hợp còn lại. bệnh diễn biến nhẹ, thường khỏi sau 2 - 5 ngày. 6 - Salmonella không gây thương hàn: Lây bệnh do tiếp xúc với súc vật nhiễm trùng hoặc thức ăn động vật bị ô nhiễm. Đây là nguyên nhân phổ biến ở các nước sử dụng rộng rãi các loại thực phẩm chế biến kinh doanh.
Salmonella thường gây tiêu chảy phân toé nước, đôi khi cũng biểu hiên như hội chứng lị. Kháng sinh không những không có hiệu quả mà có thể còn gây chậm đào thải vi khuẩn qua đường ruột. - Phẩy khuẩn tả Vibrio Cholerae 01: Có 2 typ sinh vật (typ Cổ điển và Eltor) và 2 typ huyết thanh (Ogawa và Inaba).3 Kí sinh trùng: - Entamoeba hystolytica: Entamoeba hystolytica xâm nhập vào liên bào đại tràng hay hổi tràng, gây nên các ổ áp xe nhỏ, rổi loét, làm tăng tiết chất nhày lẫn máu [1], [49]. - Giardia lamblia: Là đơn bào bám dính lên liên bào ruột non, làm teo các nhung mao ruột, dẫn đến giảm hấp thu, gây ra ỉa chảy.
- Crypxosporidium: Crypxosporidium thường gây tiêu chảy ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch và cũng gây bệnh ở nhiều loại gia súc. Chúng bám dính lên liên bào ruột non, làm teo nhung mao ruột, gây tiêu chảy nặng và kéo dài. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nấm: Candida albicance có thể là nguyên nhân gây tiêu chảy.
Bệnh thường xuất hiện ở bệnh nhi sau khi dùng kháng sinh kéo dài hoặc đối với trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh hay suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) trong giai đoạn cuối [1], [50]. Các yếu tố nguy cơ 1. Các yếu tố vật chủ làm tăng tính cảm thụ với bệnh tiêu chảy - Tuổi: Trẻ dưới 2 tuổi hay bị tiêu chảy, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 6 - 11 tháng (trẻ trong giai đoạn ăn sam) [17], [61]. - Tình trạng suy dinh dưỡng: Trẻ SDD dễ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh lại thường nặng, dễ gây tử vong.
- Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, bị AIDS thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy. - Cơ địa: Trẻ đẻ non, đẻ yếu. Thang Long University Library 7 1. Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy - Trẻ không bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp.
- Cho trẻ bú chai, vì chai và vú cao su rất khó rửa sạch. - Ăn sam sớm, thức ăn để lâu. - Sử dụng nguổn nước bị ô nhiễm. - Chế độ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống kém [20].
Tính chất mùa: - Tiêu chảy do virus thường xảy ra vào mùa đông. - Tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa hè [21].1 Sinh lý trao đổi nước bình thường ở ruột 1.1 Quá trình hấp thu nước ở ruột Bình thường, tại ruột, sự hấp thu nước được thực hiện qua 2 đường: chủ động và thụ động. Hấp thu thụ động tương đối ít về số lượng và xảy ra bởi cơ chế xuyên qua khe hở nhỏ giữa các tế bào biểu bì (liên bào ruột) [62]. Hấp thu nước theo con đường chủ động xảy ra qua liên bào ruột, được điều hoà chủ yếu bởi sự chênh lệch áp lực thẩm thấu.
áp lực này được tạo nên do sự vân chuyển các chất hoà tan, chủ yếu là Natri từ mặt bên này (phía lòng ruột) sang mặt bên kia liên bào ruột. Quá trình vân chuyển này cần tiêu tốn năng lượng và nguồn năng lượng này được tạo nên do ATP giải phóng ra sau khi bị phá vỡ bởi men ATPaza có ở bờ ngoài tế bào ruột. Sự vân chuyển Natri từ lòng ruột vào tế bào thông qua cơ chế: + Natri trao đổi với H+. + Natri gắn với Clo.
+ Natri cùng gắn với glucose hoặc pepxid. Natri và glucose được hấp thu bằng cách s ử dụng một phân tử chuyên chở (carrier molecule) ở “bờ bàn chải” (brush -border) của liên bào ruột. Bờ bàn chải của liên bào ruột sử dụng glucose như một chất mang, để cho một ion Na vào cùng với một phân tử glucose. Và như vây, khi có mặt glucose với tỷ lệ thích hợp thì sự hấp thu Natri từ ruột vào máu tăng lên gấp 3 lần.
Sự hấp thu này hoàn toàn không phụ thuộc vào AMP -vòng - một chất đã làm cho chiều vân chuyển nước theo cơ chế Natri gắn với Clo bị đảo ngược.