Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% tổng dân số cả nước, trong đó có tới 28,9% thuộc nhóm khuyết tật nặng và đặc biệt nặng. Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người, và đối với nhóm đối tượng yếu thế chịu nhiều tổn thương về thể chất lẫn tinh thần, nhu cầu tiếp cận dịch vụ y tế càng trở nên cấp bách. Mặc dù quyền được chăm sóc sức khỏe đã được hiến định trong Hiến pháp 2013 và cụ thể hóa tại Luật Người khuyết tật năm 2010, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý, thiếu tính đồng bộ và chưa đáp ứng đầy đủ đòi hỏi thực tế.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về quyền chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật cũng như kết quả thực thi tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực y tế cộng đồng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016.

Ý nghĩa của đề tài được thể hiện rõ nét qua các chỉ số an sinh xã hội: nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học giúp tháo gỡ khó khăn cho hơn 7 triệu người khuyết tật, tạo tiền đề cải thiện đời sống kinh tế cho 79,7% người khuyết tật chưa có nguồn thu nhập ổn định, đồng thời hỗ trợ giảm tỷ lệ hơn 40% hộ gia đình người khuyết tật đang sống dưới chuẩn nghèo thông qua việc nâng cao thể trạng và khả năng hòa nhập xã hội bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền con người được chuẩn hóa trong Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật (CRPD) được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 2006, kết hợp với lý thuyết an sinh xã hội hiện đại. Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tác động đa chiều giữa bốn chủ thể: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và điều phối ngân sách; hệ thống cơ sở y tế cung cấp dịch vụ kỹ thuật; cộng đồng và các tổ chức xã hội hỗ trợ nguồn lực; gia đình và bản thân người khuyết tật tham gia trực tiếp vào quá trình phục hồi.

Hệ thống khái niệm chính được xây dựng đồng bộ bao gồm: khái niệm người khuyết tật theo phân loại quốc tế về chức năng, khuyết tật và sức khỏe (ICF năm 2001) gắn với các rào cản xã hội; khái niệm chăm sóc sức khỏe toàn diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) bao gồm sự thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội; nguyên tắc chăm sóc sức khỏe ban đầu theo Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978 với 10 nội dung chuẩn hóa tại Việt Nam và Hiến chương Ottawa năm 1986 về nâng cao sức khỏe; cùng nguyên tắc xã hội hóa và ưu tiên hợp lý trong y tế công cộng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống văn bản pháp quy của Việt Nam gồm Hiến pháp 2013, Luật Người khuyết tật 2010, Nghị định 28/2012/NĐ-CP, Thông tư 26/2012/TT-BLĐTBXH, Quyết định 1208/QĐ-TTg, Quyết định 4039/QĐ-BYT; báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Luật Người khuyết tật của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; số liệu thống kê y tế quốc gia và dữ liệu quốc tế từ ILO, UNESCO, WHO.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống quản trị y tế 4 cấp tại Việt Nam, bao gồm 36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế, 492 bệnh viện tuyến tỉnh, 620 bệnh viện tuyến huyện, 31 bệnh viện ngành, 170 bệnh viện tư nhân và mạng lưới 11.668 trạm y tế xã, phường trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố. Phương pháp chọn mẫu là khảo sát toàn diện hệ thống văn bản pháp lý chuyên ngành và dữ liệu thống kê liên quan trực tiếp đến chăm sóc sức khỏe trong mốc thời gian từ năm 2010 đến năm 2016.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp tổng hợp logic là nhằm bóc tách cấu trúc pháp lý, làm nổi bật mâu thuẫn giữa luật khung và văn bản hướng dẫn dưới luật. Đồng thời, phương pháp so sánh luật học đối chiếu với Đạo luật ADA năm 1990 của Hoa Kỳ, Luật Bảo vệ Người khuyết tật năm 1990 của Trung Quốc và Luật Chăm sóc bà mẹ trẻ em của Nhật Bản giúp luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc, phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu khuyết tật tại Việt Nam rất đa dạng với tỷ lệ chênh lệch rõ rệt: khuyết tật vận động chiếm 28%, khuyết tật trí tuệ chiếm 25%, khuyết tật thần kinh và tâm thần chiếm 17%, khiếm thị chiếm 16%, khiếm thính chiếm 15% và các dạng khuyết tật khác chiếm 12%. Đáng chú ý, nữ giới chiếm tới 58% tổng số người khuyết tật, trẻ em chiếm 28,3% và người cao tuổi chiếm 10,2%, đặt ra yêu cầu cấp thiết về các dịch vụ chăm sóc y tế mang tính nhạy cảm giới và phù hợp với từng nhóm tuổi.

Thứ hai, mạng lưới y tế phục hồi chức năng đã hình thành rộng khắp nhưng năng lực tuyến cơ sở còn nhiều hạn chế. Toàn quốc đã đạt tổng quy mô 260.058 giường bệnh; 100% bệnh viện tuyến trung ương và 98% bệnh viện tuyến tỉnh đã thành lập khoa phục hồi chức năng, cùng với 1 bệnh viện phục hồi chức năng trung ương và 62 bệnh viện, trung tâm chuyên khoa cấp tỉnh. Tuy nhiên, tại 11.668 trạm y tế xã, phường, tỷ lệ trạm có bác sĩ mới chỉ đạt 65% và 83% thôn bản có nhân viên y tế, khiến công tác sàng lọc, phát hiện sớm và can thiệp khuyết tật tại cộng đồng gặp nhiều trở ngại.

Thứ ba, sự thiếu đồng bộ và độ trễ chính sách pháp luật diễn ra nghiêm trọng. Luật Người khuyết tật có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 nhưng phải mất đúng 2 năm, đến khi Thông tư 26/2012/TT-BLĐTBXH ra đời, mới có hướng dẫn cụ thể về giám định y khoa. Thực tế tồn tại sự chia cắt bất hợp lý khi lập ra 2 hội đồng riêng biệt tại cấp xã: Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng xác định trợ cấp xã hội, gây lãng phí nguồn lực và phiền hà cho người dân.

Thứ tư, khả năng tự chủ kinh tế của người khuyết tật rất yếu kém. Có tới 79,7% người khuyết tật không có thu nhập ổn định, hơn 40% sống dưới chuẩn nghèo, chỉ 3% được đào tạo nghề chuyên môn và vỏn vẹn 4% có việc làm bền vững. Trình độ học vấn thấp với 41% chỉ biết đọc biết viết và dưới 0,1% đạt trình độ cao đẳng, đại học khiến khả năng tự chi trả chi phí y tế chuyên sâu gần như phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách và bảo hiểm y tế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên xuất phát từ nhận thức xã hội về khuyết tật theo quan điểm quyền con người còn mới mẻ, tư duy bao cấp trông chờ vào ngân sách nhà nước vẫn phổ biến, trong khi cơ chế xã hội hóa y tế chưa có hành lang ưu đãi đủ mạnh. Thành phần Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã theo Điều 16 Luật Người khuyết tật năm 2010 chỉ có duy nhất trạm trưởng trạm y tế có chuyên môn kỹ thuật, dẫn đến nguy cơ sai lệch trong đánh giá mức độ khuyết tật.

Khi so sánh với chuẩn mực quốc tế, Đạo luật ADA năm 1990 của Hoa Kỳ quy định việc không bảo đảm tiếp cận y tế và công trình công cộng là hành vi phân biệt đối xử bị xử lý nghiêm minh, giúp 35% người khuyết tật tại Mỹ có việc làm ổn định. Trong khi đó, kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy sự kết hợp hiệu quả giữa y học cổ truyền và hiện đại trong phục hồi chức năng tại cộng đồng, còn Nhật Bản thành công nhờ thiết lập quỹ cho vay thiết bị trợ giúp chuyên dụng.

Để nâng cao tính trực quan, dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn qua bảng ma trận đối chiếu năng lực khám chữa bệnh 4 cấp hành chính hoặc biểu đồ phân bổ tỷ lệ các dạng tật gắn với tỷ lệ cơ sở y tế đạt chuẩn tiếp cận không rào cản, qua đó làm nổi bật khoảng cách giữa hạ tầng kỹ thuật hiện tại và yêu cầu thực tế của người khuyết tật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và loại bỏ rào cản thủ tục hành chính. Quốc hội và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần tiến hành sửa đổi các văn bản dưới luật, bãi bỏ quy định tách biệt hai hội đồng tại cấp xã, thống nhất sáp nhập thành một Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và trợ cấp xã hội tích hợp trước năm 2025. Cần bổ sung cán bộ y tế chuyên khoa vào thành phần hội đồng và điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội cho 28,9% nhóm đối tượng khuyết tật nặng và đặc biệt nặng.

Thứ hai, nâng cao năng lực y tế cơ sở và phát triển phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. Bộ Y tế phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các cấp đặt mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ trạm y tế xã có bác sĩ từ 65% lên tối thiểu 85%, đồng thời tổ chức tập huấn chuyên sâu về phát hiện sớm và can thiệp sớm khuyết tật cho 100% nhân viên y tế tại 11.668 trạm y tế xã, phường trên cả nước.

Thứ ba, đẩy mạnh xã hội hóa và thành lập quỹ hỗ trợ trang thiết bị chuyên dùng. Bộ Tài chính phối hợp với các tổ chức đoàn thể học tập mô hình của Nhật Bản, xây dựng cơ chế tín dụng ưu đãi và quỹ hỗ trợ cung cấp hoặc cho thuê dài hạn các dụng cụ chỉnh hình, máy trợ thính, xe lăn cho người khuyết tật nghèo. Mục tiêu đến năm 2030, 100% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được cấp phát bảo hiểm y tế miễn phí và tiếp cận đầy đủ các thiết bị phục hồi chức năng thiết yếu.

Thứ tư, xây dựng khung pháp lý phòng chống phân biệt đối xử và chuẩn hóa công trình y tế. Bộ Xây dựng và Bộ Y tế cần ban hành quy chuẩn bắt buộc về thiết kế không rào cản tại tất cả các bệnh viện và phòng khám, bảo đảm lộ trình đến năm 2030 đạt 100% cơ sở y tế công lập và tư nhân có đường dốc, thang máy và nhà vệ sinh chuyên biệt dành cho người khuyết tật, đồng thời bổ sung chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi kỳ thị, từ chối cung cấp dịch vụ y tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước về an sinh xã hội: Các chuyên viên, nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp sẽ tìm thấy trong luận văn những căn cứ thực tiễn sâu sắc từ hệ thống quản trị 4 cấp để rà soát, sửa đổi Luật Người khuyết tật và ban hành các thông tư liên tịch chuẩn hóa quy trình giám định y khoa.

Nhóm cán bộ quản lý bệnh viện và nhân viên y tế: Đội ngũ y bác sĩ, kỹ thuật viên tại 62 bệnh viện, trung tâm phục hồi chức năng cấp tỉnh và khoa chuyên khoa tại các bệnh viện có thể ứng dụng khung lý thuyết chăm sóc sức khỏe toàn diện để tối ưu hóa quy trình điều trị, kết hợp linh hoạt giữa phục hồi chức năng y khoa và trợ giúp xã hội cho bệnh nhân.

Nhóm các tổ chức xã hội và tổ chức của người khuyết tật: Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam với hơn 97.000 hội viên, Hội Người mù Việt Nam và các câu lạc bộ vì người khuyết tật có thể sử dụng luận văn làm tài liệu pháp lý vững chắc trong công tác tư vấn, tuyên truyền và vận động chính sách bảo vệ quyền lợi khám chữa bệnh chính đáng.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, Luật An sinh xã hội và Y tế công cộng có thể khai thác mô hình tiếp cận quyền con người và phương pháp đối chiếu pháp luật quốc tế của luận văn để phục vụ các đề tài nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng tại Việt Nam hiện nay là bao nhiêu? Theo báo cáo thống kê, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số, trong đó nhóm khuyết tật nặng và đặc biệt nặng chiếm tỷ lệ 28,9%. Nhóm đối tượng này được hưởng quyền ưu tiên khám chữa bệnh, miễn giảm chi phí và nhận trợ cấp xã hội với hệ số từ 1,5 đến 2,5 mức chuẩn theo quy định pháp luật.

Khung pháp lý Việt Nam bảo đảm quyền chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật như thế nào? Quyền này được ghi nhận trang trọng tại Điều 59 và Điều 61 Hiến pháp 2013, được cụ thể hóa tại Chương III Luật Người khuyết tật năm 2010 bao gồm 4 nội dung chính: chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh, chỉnh hình và phục hồi chức năng, đồng thời được củng cố khi Việt Nam phê chuẩn Công ước CRPD vào tháng 10 năm 2014.

Hạn chế lớn nhất trong quy trình xác định mức độ khuyết tật tại cấp xã hiện nay là gì? Hạn chế lớn nhất là sự chồng chéo giữa Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và Hội đồng xác định trợ cấp xã hội theo Thông tư 26/2012/TT-BLĐTBXH. Bên cạnh đó, trong hội đồng cấp xã chỉ có duy nhất trạm trưởng trạm y tế có chuyên môn kỹ thuật, dẫn đến nguy cơ sai sót khi đánh giá các dạng tật phức tạp.

Quy mô hệ thống y tế phục hồi chức năng tại Việt Nam đạt mức độ nào? Mạng lưới phục hồi chức năng phát triển mạnh với 1 bệnh viện phục hồi chức năng trung ương, 62 bệnh viện, trung tâm chuyên khoa cấp tỉnh, 100% bệnh viện trung ương và 98% bệnh viện tỉnh có khoa phục hồi chức năng, vận hành phục vụ trong tổng số 260.058 giường bệnh trên toàn quốc.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng hiệu quả vào công tác chăm sóc sức khỏe người khuyết tật tại Việt Nam? Việt Nam có thể học tập quy định chống phân biệt đối xử nghiêm ngặt trong tiếp cận y tế theo Đạo luật ADA 1990 của Hoa Kỳ, phát triển mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng như Trung Quốc và triển khai quỹ cho vay thiết bị trợ giúp sinh hoạt như Nhật Bản để nâng cao năng lực tự lập cho người khuyết tật.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền chăm sóc sức khỏe của hơn 7 triệu người khuyết tật tại Việt Nam dựa trên tiếp cận quyền con người và Công ước CRPD.
  • Đánh giá khách quan thực trạng hạ tầng y tế với 260.058 giường bệnh và 98% bệnh viện tuyến tỉnh có khoa phục hồi chức năng, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn tại 11.668 trạm y tế xã.
  • Làm sáng tỏ các bất cập pháp lý thực tế như độ trễ ban hành văn bản hướng dẫn kéo dài 2 năm và sự cồng kềnh của bộ máy hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp cơ sở.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực y tế ban đầu, đẩy mạnh xã hội hóa và xóa bỏ rào cản tiếp cận với lộ trình rõ ràng đến năm 2025 và 2030.
  • Khẳng định giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc phục vụ công tác lập pháp và hoạch định chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.

Toàn bộ công trình nghiên cứu là nguồn tư liệu tham khảo giá trị dành cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý y tế và các nhà làm luật nhằm thúc đẩy sự bình đẳng, tiến bộ xã hội và bảo đảm quyền chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người khuyết tật.