MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, bởi vậy mà vấn đề làm thế nào để có một sức khỏe tốt, không có bệnh tật, đảm bảo sống lâu, sống khỏe, sống có ích cho xã hội là mong muốn của tất cả mọi người. Vì thế mà nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu quan trọng và tất yếu của con người, điều đó càng cần được quan tâm với đối người khuyết tật. Do người khuyết tật là những người có những khiếm khuyết về mặt thể chất hoặc tinh thần nên những khiếm khuyết này gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc chăm sóc cho bản thân mình so với người bình thường.
Cần phải tạo điều kiện để họ vượt qua những khó khăn về tật hay bệnh mới có thể giúp họ hướng tới những cơ hội khác một cách lâu dài. Chính vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật là vấn đề cần được quan tâm trong xã hội ngày nay. Chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật mang một truyền thống nhân đạo to lớn.Người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (tháng 6 năm 1991) đã khẳng định “Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh… Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và mồ côi”.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội”. Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 đều khẳng định người khuyết tật là công dân, được hưởng đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ công dân, được chung hưởng thành quả xã hội. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn hóa và học 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề phù hợp (Điều 59), “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Điều 67).
Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác” (Điều 59), “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề” (Điều 61). Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành đặc biệt là Luật Người khuyết tật được Quốc hội thông qua năm 2010 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, bao gồm 10 chương, 53 điều trong đó có chương III với nội dung “Chăm sóc sức khỏe” đã tạo hành lang pháp lý đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật bảo đảm quyền lợi của người khuyết tật về chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luật Người khuyết tật nói chung và pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật nói riêng nảy sinh nhiều bất cập. Hệ thống văn bản pháp luật thiếu thống nhất.
Có nhiều nội dung văn bản pháp luật quy định nhưng không thực hiện được. Ví dụ, vấn đề quy định ưu đãi đối với các doanh nghiệp sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hưởng ưu đãi (Điều 3 thông tư 26/2012 TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội), thực chất nhiều năm qua không có doanh nghiệp nào đạt được con số này. Hay việc tiếp cận kỹ thuật tin học, phương tiện, công trình giao thông, công trình kiến trúc có lẽ còn lâu mới đạt được lộ trình mà Luật Người khuyết tật năm 2010 đề ra tại Điều 40. Để Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Công ước về quyền của người khuyết tật, Quốc hội khoá XIII đã phê chuẩn Công ước tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2014).
Từ góc độ pháp lý, có thể nhận thấy được một số công việc quan trọng đã và đang đặt ra với những thuận lợi, khó khăn, thách thức nhất định, từ đó cũng gợi mở việc tìm kiếm hướng giải quyết phù hợp. Đặc biệt là công tác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rà soát, chỉ rõ những điểm còn chưa thống nhất giữa quan điểm, đường lối, chính sách chung của Đảng, Nhà nước về người khuyết tật với các quy định cụ thể của pháp luật về người khuyết tật; chỉ rõ những điểm chưa thống nhất giữa các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành với Luật Người khuyết tật, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật. Theo nghiên cứu, có thể thấy các quy định và tinh thần chung của Công ước hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam trong việc chăm sóc, bảo vệ người khuyết tật. Một số quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam thể hiện sự quan tâm, trợ giúp người khuyết tật cao hơn so với quy định của Công ước.
Tuy vậy, một số nguyên tắc và quy định nêu trong Công ước lại chưa được khẳng định đầy đủ trong hệ thống pháp luật Việt Nam trên quan điểm tiếp cận toàn diện các quyền con người của người khuyết tật như: quyền bình đẳng, tiếp cận tư pháp, tiếp cận đời sống chính trị, cộng đồng, văn hoá, giải trí. Công ước có những quy định cao hơn pháp luật Việt Nam, đặc biệt là về quyền giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, giải trí, tiếp cận tư pháp, tham gia các hoạt động chính trị và cộng đồng. Vì vậy, khi đã phê chuẩn Công ước, trách nhiệm của Việt Nam là cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng bảo đảm, bảo vệ đầy đủ, toàn diện, thống nhất các quyền của người khuyết tật theo quy định của Công ước. Qua đó cũng có thể đánh giá được những thuận lợi và khó khăn cần phải giải quyết trong việc thực thi nghĩa vụ thành viên công ước.
Thuận lợi lớn nhất là dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống nhân ái, thương yêu đùm bọc, trợ giúp, nâng đỡ người khuyết tật. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo phát triển các quyền con người nói chung, trong đó có quyền của người khuyết tật. Hiến pháp mới đặt cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc cho sự nghiệp bảo đảm và phát triển các quyền con người, quyền công dân, trong đó có các quyền của người khuyết tật. Với tư cách là thành viên Liên Hợp Quốc, thành viên Hội đồng nhân quyền thế giới, Việt Nam cam kết mạnh mẽ việc bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền của người khuyết tật.
Công tác chăm sóc, hỗ trợ người khuyết tật vươn lên hoà nhập cuộc sống cộng đồng trong thời gian qua ở Việt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam đã thu được nhiều kết quả khả quan, cuộc sống của nhiều người khuyết tật đã được cải thiện… Tất cả những yếu tố đó tạo thành điều kiện thuận lợi căn bản cho việc phê chuẩn và triển khai thực thi nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước. Nhưng bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, chúng ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn. Trước hết, đó là nhận thức chung của người khuyết tật, của xã hội về quyền con người nói chung, về vấn đề khuyết tật và quyền của người khuyết tật (quan điểm tư duy dựa trên quyền con người) vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, phần đông người Việt Nam chưa quen với quan điểm tiếp cận này, thậm chí cả chính người khuyết tật cũng chưa thật sự hiểu biết, nắm bắt và tự ý thức được các quyền của mình. Tiếp đến, kiểu tư duy bao cấp vẫn còn dai dẳng, nhiều người vẫn quan niệm mọi gánh nặng, các nguồn lực đổ dồn hết lên vai ngân sách Nhà nước mà chưa thấy được tiềm năng to lớn ở ngay chính xã hội.
Cũng từ đó, nhà thiết kế chính sách pháp luật dễ từ chối việc bảo đảm quyền cho người khuyết tật theo tinh thần Công ước. Trong khi thực sự thì quyền là giá trị chung, không phụ thuộc vào việc công nhận hay không công nhận nhưng việc thực thi bảo đảm quyền bằng pháp luật quốc gia lại có ý nghĩa thực tế vô cùng quan trọng, nếu không thì quyền của người khuyết tật không thể được hiện thực hoá. Nước ta là một thành viên tham gia vào công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật, việc hoàn thiện thể chế pháp luật về người khuyết tật nói chung, pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật nói riêng là vấn đề hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa việc thực hiện tốt pháp luật chăm sóc sức khỏe người khuyết tật còn góp phần to lớn vào chính sách an sinh xã hội của đất nước.
Nhằm giải quyết các vấn đề chăm sóc sức khỏe người khuyết tật một cách có hệ thống, hiệu quả, tôi chọn đề tài “Pháp luật về chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật ở Việt Nam” với mong muốn góp phần vào việc nâng cao ý nghĩa cuộc sống xã hội nói chung và người khuyết tật nói riêng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tình hình nghiên cứu Vấn đề thực hiện pháp luật về người khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ, ngành, nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp luật cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã có một số công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.