Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về ngƣời khuyết tật và quyền của ngƣời khuyết tật 1. Khái niệm và đặc điểm người khuyết tật 1. Khái niệm người khuyết tật Hiện nay ở nƣớc ta tồn tại nhiều quan niệm về NKT.
Mỗi một quan niệm đều đứng trên một góc nhìn khác nhau và có mục đích riêng. Trƣớc khi Luật Ngƣời khuyết tật năm 2010 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam nhìn nhận ngƣời khuyết tật dƣới góc độ “Ngƣời tàn tật” (NTT). Điều này đƣợc ghi nhận tại Điều 1 của Pháp lệnh Ngƣời tàn tật năm 1998: Ngƣời tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là ngƣời bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dƣới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn [53]. Theo Điều 1 Nghị định số 81- CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là ngƣời tàn tật thì “Người tàn tật là người mà khả năng lao động bị suy giảm từ 21% trở lên do tàn tật, được Hội đồng giám định y khoa xác nhận” [11, Điều 1].
Trong quy định này khái niệm NTT mới chỉ đƣa ra một cách chung chung, chỉ dừng lại ở việc dùng mức độ suy giảm khả năng lao động do tàn tật làm căn cứ phân biệt xác định một ngƣời nhƣ thế nào đƣợc xác định là NTT mà chƣa đƣa ra đƣợc các đặc điểm khác nhằm phân biệt NTT với ngƣời không tàn tật. Đến Nghị định số 116/2004/NĐ-CP ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sung một số điều của Nghị định số 81 - CP ngày 23/11/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là ngƣời tàn tật thì định nghĩa NTT đƣợc đƣa ra cụ thể hơn thông qua việc xác định một ai đó có phải là NTT hay không: Lao động là ngƣời tàn tật theo quy định tại Nghị định này là ngƣời lao động không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dƣới những dạng tật khác nhau, bị suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, đƣợc Hội đồng giám định y khoa hoặc cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận theo qui định của Bộ Y tế [16, Điều 1]. Liên quan đến khái niệm NTT, tại Điều 59 và Điều 67 Hiến pháp năm 1992 khẳng định:“… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em tàn tật được học văn hóa và học nghề phù hợp”; “… Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” [30]. Năm 2001, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 51/QH10 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó có sửa đổi vấn đề liên quan đến ngƣời khuyết tật tại Điều 59 dùng cụm từ “khuyết tật” thay cho cụm từ “tàn tật”.
Những vấn đề liên quan đến ngƣời khuyết tật đƣợc quy định tại Hiến pháp năm 1992 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001: “… Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoá và học nghề phù hợp” [33, Điều 59]. Nhƣ vậy, Hiến pháp 1992 khi đƣợc sửa đổi năm 2001 tại Điều 59 đã sử dụng thuật ngữ trẻ em khuyết tật thay cho thuật ngữ trẻ em tàn tật: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hóa và học nghề phù hợp” [33, Điều 59]. Với sự thay thế cách hiểu và cách sử dụng thuật ngữ trong Hiến pháp này, lần đầu tiên NKT đã đƣợc nhìn nhận và đánh giá phù hợp với tâm lý và thực tế tránh quan niệm kỳ thị phân biệt đối xử đối với nhóm ngƣời dễ bị tổn thƣơng này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở Hiến pháp 1992 sửa đổi, ngày 17/6/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Ngƣời khuyết tật và tại đây chính thức sử dụng khái niệm “Ngƣời khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” trƣớc đây.
Thuật ngữ này, thiết nghĩ phù hợp với khái niệm và xu hƣớng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật. Theo quy định của Luật này thì NKT đƣợc hiểu là “Người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiế n cho lao động , sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Đây là sự thể hiện quan điểm và nhận thức của Đảng và Nhà nƣớc ta về NKT. Rõ ràng, NKT có thể là ngƣời có những khiếm khuyết nhƣng không phải đã tàn phế.
Theo cách hiểu này thì NKT bao gồm cả những ngƣời bị khuyết tật bẩm sinh, ngƣời bị khiếm khuyết do tai nạn, thƣơng binh, bệnh binh. Trong bản Hiến pháp 2013, khái niệm ngƣời khuyết tật đã đƣợc sử dụng và không chỉ còn nói đến trẻ em khuyết tật mà còn nói đến trách nhiệm của nhà nƣớc đối với ngƣời khuyết tật nói chung [41, Điều 61]. Có thể thấy, khái niệm NKT trong Luật Ngƣời khuyết tật so với khái niệm ngƣời tàn tật nói trong Pháp lệnh trƣớc đây đã có bƣớc phát triển mới, tiếp cận với quan niệm thông thƣờng và chuẩn mực quốc tế về NKT (Công ƣớc năm 2006) mà Việt Nam đã ký kết. Việc sử dụng từ ngữ “Ngƣời khuyết tật” thay cho từ ngữ “Ngƣời tàn tật” nhằm bảo đảm tính nhân văn, không gây mặc cảm, tránh sự phân biệt kỳ thị đối với NKT, đồng thời hàm chứa đƣợc đầy đủ hơn đối tƣợng áp dụng và phù hợp với luật pháp quốc tế.
Theo đó vấn đề khuyết tật đƣợc nhìn nhận một cách toàn diện hơn ở cả góc độ y tế và góc độ xã hội. Thực tế cho thấy NKT khó có cơ hội tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội do những khiếm khuyết về cơ thể hay chức năng, song khó khăn đó sẽ tăng thêm do ảnh hƣởng bởi những rào cản khác trong xã hội. Sự quan tâm đối với NKT không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng mà còn phải tiến tới xoá bỏ các rào cản khác đối với NKT. Chính vì vậy, việc tiếp cận khái niệm NKT từ góc độ xã hội là nhằm hƣớng đến bổ sung, sửa đổi các chính sách giúp giảm thiểu hoặc xoá bỏ những rào cản, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhà nƣớc, xã hội, gia đình, cộng đồng và của mọi cá nhân đối với NKT, giúp NKT chủ động hòa nhập, có cơ hội tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động của xã hội.
Đặc điểm của người khuyết tật - Về sức khỏe, NKT là những ngƣời bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể, hoặc có những rối loạn sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó. Sức khỏe của lao động khuyết tật kém hơn lao động bình thƣờng, khả năng chống lại dịch bệnh thấp, là đối tƣợng gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp và vận động. Đây là một trong những đối tƣợng cần đƣợc Nhà nƣớc và ngƣời sử dụng lao động quan tâm nhiều hơn. Một thực tế khác không thể phủ nhận là sự đa dạng của khuyết tật với những nguyên nhân hình thành khác nhau (do bẩm sinh, do bệnh tật, do tai nạn, do chiến tranh.), những dạng khuyết tật khác nhau (khuyết tật vận động, khuyết tật cảm giác, khuyết tật trí tuệ…) và những mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Chính điểm này đòi hỏi pháp luật cũng nhƣ chính sách về NKT phải có sự chuyên biệt phù hợp với từng dạng khuyết tật. - Về tâm lý, phần lớn NKT đều có mặc cảm về tật nguyền, tự ti, sống cuộc sống bi quan, cô lập với mọi ngƣời và thế giới xung quanh. Họ cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội nên thƣờng có tâm lý chán nản, thái độ bất cần vì có cố gắng nỗ lực cũng khó đƣợc ghi nhận. Ở những ngƣời mà khuyết tật nhìn thấy đƣợc, chẳng hạn nhƣ khuyết chi, họ có các biểu hiện tâm lý giống nhƣ mặc cảm ngoại hình, tức là sự chú trọng quá mức đến khiếm khuyết cơ thể đến nỗi gây khổ đau lớn.Họ thƣờng mang tâm lý trốn tránh và sợ hãi khi thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng nhƣ giao lƣu gặp gỡ ở chỗ đông ngƣời.
Họ cảm thấy mình là ngƣời thừa, không còn có ích cho xã 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội, thậm chí cảm thấy bị Nhà nƣớc bỏ rơi. Vì vậy một bộ phận không nhỏ NKT mang tâm lý căm ghét chế độ, căm hận cuộc sống hoặc có xu hƣớng sống thu mình, không quan tâm tới mọi hoạt động xung quanh. Do có cuộc sống khó khăn hơn bình thƣờng và tâm lý cùng điều kiện khác mà một số lƣợng không nhỏ NKT không gia đình, không có nơi để làm chỗ dựa nên rất cần Nhà nƣớc có những chính sách hỗ trợ riêng cho họ, những con ngƣời kém phần may mắn ngoài những trợ cấp về vật chất khi cần thiết. Chính những chính sách phù hợp này sẽ tạo cho NKT cơ hội để hòa nhập cộng đồng, thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm, có thu nhập đảm bảo cuộc sống và hơn cả là giải phóng sự ức chế về mặt tâm lý cho họ.
- Về hoạt động xã hội, xuất phát từ những đặc thù về tâm lý, NKT đƣợc xếp vào đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng nhất trong nhóm dễ bị tổn thƣơng, là những ngƣời yếu thế trong xã hội, họ tham gia hoạt động xã hội rất hạn chế. Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc tham gia các hoạt động xã hội. Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT. Trong cộng đồng nhiều ngƣời có suy nghĩ coi NKT là “đáng thƣơng”, không có cuộc sống “bình thƣờng”, là “gánh nặng” của xã hội… - Về nhận thức pháp luật:NKT là đối tƣợng chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử từ xã hội.
Nguyên nhân do nhiều ngƣời không hề biết đến quy định của pháp luật về ngƣời khuyết tật. Sự kỳ thị, phân biệt đối xử diễn ra ở nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội, thậm chí xuất phát từ chính bản thân NKT.