Chương 1: Những vấn đề chung về NKT, bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật. Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật tại Việt Nam. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1.
Tổng quan một số vấn đề lý luận về ngƣời khuyết tật 1. Khái niệm Liên quan đến khái niệm “người khuyết tật”, có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau ở cả khía cạnh không gian và thời gian, tuy nhiên, có thể khái quát thành hai nhóm quan điểm lớn đó là: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng vấn đề khuyết tật là ở tại chính con người đó, vì thế chú trọng rất ít hoặc không để ý gì đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người đó. Theo mô hình này, một người bị suy giảm khả năng vận động sẽ bị rơi vào hoàn cảnh khuyết tật do sự suy giảm chức năng của riêng cá nhân đó. Người ấy có thể cố gắng vượt qua các hạn chế về chức năng do tình trạng khuyết tật gây ra bằng cách điều trị y khoa và/hoặc sử dụng các dụng cụ trợ giúp y tế, ví dụ như xe lăn hoặc nạng.
Quan điểm này tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác, sức khỏe tâm thần…, và NKT cần được hỗ trợ, chăm sóc, họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc sống của mình. Quan điểm này được gọi là quan điểm mô hình khuyết tật cá nhân hay mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế. Tổ chức Y tế thế giới đưa ra 3 thuật ngữ về khuyết tật đều theo quan điểm khuyết tật cá nhân, đó là “khiếm khuyết”, “giảm khả năng” và “tàn tật”. Khiếm khuyết là tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý.
Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể). Giảm khả năng là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra, hạn chế hoặc mất chức năng vận động, nói, nghe, nhìn hoặc giao tiếp (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể). Tàn tật là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội). Luật thành văn của các nước sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để mô tả 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NKT như "tàn phế", "tật nguyền", hoặc "chậm phát triển".
Ví dụ, Điều 2 Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ NKT ban hành năm 1990 quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. “Người khuyết tật” là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác”. Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 của Ấn Độ (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho NKT tham gia mọi hoạt động xã hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần. Trong khi đó, NKT lại được định nghĩa là “một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền”.
Theo đạo luật số 7277 của Phillipines năm 1991 thì “Người khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”. Nhược điểm của các quan điểm nêu trên là nhìn nhận NKT là một vấn đề của xã hội và cần có giải pháp để làm người đó “bình thường” [5, tr10], vì vậy dễ làm NKT cảm thấy bị xúc phạm. Luật pháp cần sử dụng thuật ngữ một cách nhất quán và phải thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm con NKT. Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng khuyết tật là một sản phẩm của xã hội.
Vấn đề khuyết tật bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể. Theo mô hình xã hội về khuyết tật, sự suy giảm khả năng đi lại cần được xem xét trong bối cảnh xã hội và môi trường xung quanh. Xóa bỏ những rào cản xã hội và đảm bảo sự tiếp cận với môi trường vật thể có ý nghĩa tích cực trong việc giảm bớt hoặc vượt qua được những hạn chế giúp NKT hoạt động và tham gia vào mọi mặt cuộc sống [13]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm này mang ý nghĩa bao quát hơn khái niệm mô hình khuyết tật cá nhân, và có ý nghĩa bảo vệ những NKT khỏi bị phân biệt đối xử.
Khái niệm có đối tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người có khuyết tật nhẹ, những người sống chung với NKT, những người bị gán cho danh nghĩa khuyết tật cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử. Có một số văn kiện pháp lý quốc tế định nghĩa về NKT theo quan niệm này, chẳng hạn như: Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (năm 1983) quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” (khoản 1, Điều 1); Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006) quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” (Điều 1). Kế thừa quan điểm này trong pháp luật quốc tế, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận vấn đề khuyết tật dưới góc độ xã hội. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội”.
Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”. Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA-Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”. Hay Bộ Luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật của Vương Quốc Anh năm 1995 điều chỉnh đối tượng là người có tiền sử hoặc hiện đang mang tật về trí não 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hay thể lực khiến cho khả năng thực hiện các công việc thường ngày bị ảnh hưởng đáng kể và lâu dài. Khi được sửa đổi mới đây, Bộ luật được mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với người dị dạng mức độ nặng và những người nhiễm HIV/AIDS.
Bản thân CRPD không có định nghĩa khuyết tật, nhưng thuật ngữ đó được hiểu là “những người khiếm khuyết lâu ngày về thể chất, thần kinh, trí tuệ hoặc các giác quan mà khi tác động tương hỗ với những rào cản khác nhau có thể gây cản trở cho việc tham gia hiệu quả và đầy đủ vào xã hội, trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. CRPD đặc biệt loại ra mô hình y tế mà coi một người khuyết tật là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện. Thay vào đó, CRPD công nhận “mô hình xã hội” của khuyết tật. Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự nó không giảm bớt quyền của trẻ em và người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống trong một môi trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của mình thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục.
Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội (chứ không phải lên cá nhân NKT) phải tháo gỡ những rào cản lý tính và thái độ đang “làm khuyết tật” những con người có chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy đủ vào xã hội. Như vậy, khái niệm người khuyết tật phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi. Do vậy, không có một khái niệm chung nào về khuyết tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật. Mỗi quốc gia phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính sách của quốc gia mình để đưa khái niệm phù hợp.
Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về NKT, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.