Luận Văn Thạc Sĩ Về Quyền Của Người Khuyết Tật Từ Góc Độ Lịch Sử, Văn Hóa Pháp Lý và Thực Tiễn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls quyền của người khuyết tật nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa pháp lý và thực tiễn, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2011

115
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Quan điểm, chủ trương, chính sách về quyền của người khuyết tật

1.2. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền của người khuyết tật

1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, giúp đỡ người khuyết tật

1.4. Bảo vệ, bảo đảm quyền lợi của người khuyết tật trong Bộ luật Hồng Đức

1.5. Những quan điểm cơ bản trong tư tưởng văn hóa về quyền của người khuyết tật

1.6. Tổng quan hệ thống pháp luật về người khuyết tật

1.6.1. Khái niệm người khuyết tật

1.6.2. Ảnh hưởng của khuyết tật đối với hoạt động của con người

1.6.3. Vai trò của pháp luật trong việc bảo đảm các quyền của người khuyết tật

1.6.4. Pháp luật về người khuyết tật sẽ góp phần vào việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt và kỳ thị với người khuyết tật

1.6.5. Pháp luật về người khuyết tật góp phần thay đổi cách nhìn nhận của xã hội đối với người khuyết tật và gia đình họ

1.6.6. Pháp luật về người khuyết tật góp phần vào việc làm rõ những đặc thù riêng về người khuyết tật ở nước ta

1.7. Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật

1.7.1. Tổng quan pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật

1.7.2. Nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.7.3. Ý nghĩa sự ra đời của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

1.8. Điều chỉnh pháp luật về người khuyết tật và quyền của người khuyết tật

1.8.1. Điều chỉnh pháp luật về người khuyết tật

1.8.2. Quyền cơ bản của người khuyết tật

1.8.2.1. Quyền chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng
1.8.2.2. Quyền về giáo dục
1.8.2.3. Quyền về dạy nghề và việc làm
1.8.2.4. Quyền về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch
1.8.2.5. Quyền tiếp cận xây dựng, công trình công cộng, phương tiện giao thông, thông tin và truyền thông
1.8.2.6. Quyền được bảo trợ xã hội

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

2.1. Thực trạng pháp luật về quyền của người khuyết tật

2.2. Pháp luật quốc tế về quyền của người khuyết tật

2.2.1. Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật

2.2.2. Chương trình hành động ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

2.2.3. Đối với các quốc gia trên thế giới

2.3. Pháp luật Việt Nam về quyền của người khuyết tật

2.3.1. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn

2.3.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức

2.3.3. Thực thi pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam

2.3.4. Tình hình thực tế về người khuyết tật

2.3.5. Đánh giá việc thực thi pháp luật về quyền của người khuyết tật

2.3.6. Chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ nuôi dưỡng

2.3.7. Học văn hóa đối với người khuyết tật

2.3.8. Học nghề và tạo việc làm của người khuyết tật

2.3.9. Hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao và sử dụng các công trình công cộng

2.3.10. Các hoạt động khác

2.4. Kinh nghiệm quốc tế về quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách trợ giúp người khuyết tật

2.4.1. Kinh nghiệm từ Công ước về quyền của người khuyết tật

2.4.1.1. Phương pháp tiếp cận
2.4.1.2. Phạm vi đối tượng
2.4.1.3. Các chính sách hỗ trợ
2.4.1.4. Phát triển phúc lợi và các dịch vụ cần thiết
2.4.1.5. Trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức
2.4.1.6. Sự tham gia giám sát
2.4.1.7. Các vấn đề được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

2.4.2. Kinh nghiệm từ pháp luật một số quốc gia

2.4.2.1. Luật cơ bản về người khuyết tật Nhật Bản
2.4.2.2. Luật về người khuyết tật của Malaysia
2.4.2.3. Kinh nghiệm từ Luật bảo vệ người khuyết tật của Trung Quốc
2.4.2.4. Các Đạo luật về người khuyết tật của Mỹ

2.5. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Quan điểm cơ bản về bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật

3.2. Bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

3.3. Một số giải pháp về bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật

3.3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức của xã hội về quyền của người khuyết tật

3.3.2. Xây dựng ý thức đạo đức, ý thức pháp luật trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật

3.3.3. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật

3.3.4. Đẩy mạnh phòng ngừa khuyết tật

3.3.5. Tăng cường cơ chế thực thi và giám sát, đánh giá việc thực hiện các quyền của người khuyết tật

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền của người khuyết tật Lịch sử và văn hóa

Quyền của người khuyết tật đã được công nhận và bảo vệ qua nhiều giai đoạn lịch sử. Từ những quan điểm ban đầu về người khuyết tật trong xã hội, đến những chính sách cụ thể của Nhà nước, quyền lợi của họ đã dần được cải thiện. Văn hóa và truyền thống của Việt Nam cũng đã có những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận và đối xử với người khuyết tật. Sự phát triển này không chỉ phản ánh sự tiến bộ của xã hội mà còn thể hiện trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế.

1.1. Lịch sử phát triển quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Lịch sử quyền của người khuyết tật tại Việt Nam có thể được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Từ thời kỳ phong kiến, người khuyết tật thường bị xem nhẹ và không được quan tâm. Tuy nhiên, từ khi Đảng và Nhà nước có những chính sách cụ thể, quyền lợi của họ đã được nâng cao. Các văn bản pháp luật như Luật người khuyết tật đã tạo ra khung pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền lợi của họ.

1.2. Văn hóa và người khuyết tật Sự thay đổi trong nhận thức

Văn hóa Việt Nam đã có những thay đổi tích cực trong cách nhìn nhận về người khuyết tật. Truyền thống 'lá lành đùm lá rách' đã được phát huy, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập vào cộng đồng. Các hoạt động văn hóa, thể thao dành cho người khuyết tật ngày càng được tổ chức nhiều hơn, giúp họ có cơ hội thể hiện bản thân và khẳng định giá trị của mình.

II. Thách thức trong việc thực hiện quyền của người khuyết tật hiện nay

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc bảo vệ quyền của người khuyết tật, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Tình trạng phân biệt đối xử, thiếu thông tin và cơ sở vật chất không phù hợp là những vấn đề lớn. Đặc biệt, việc thực thi các chính sách và pháp luật liên quan đến người khuyết tật vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc họ không thể tiếp cận đầy đủ các quyền lợi của mình.

2.1. Tình hình thực tế về người khuyết tật tại Việt Nam

Theo thống kê, hiện nay có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật tại Việt Nam, chiếm 6,34% dân số. Tuy nhiên, nhiều người trong số họ vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội. Điều này cho thấy cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện tình hình.

2.2. Những rào cản trong việc thực thi pháp luật về quyền của người khuyết tật

Mặc dù có Luật người khuyết tật, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn. Thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, cũng như sự thiếu hiểu biết của cộng đồng về quyền của người khuyết tật là những rào cản lớn. Cần có sự nỗ lực từ cả xã hội và Nhà nước để khắc phục những vấn đề này.

III. Phương pháp bảo vệ quyền của người khuyết tật Giải pháp hiệu quả

Để bảo vệ quyền của người khuyết tật, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng, cải thiện hệ thống pháp luật và tăng cường sự tham gia của người khuyết tật trong các hoạt động xã hội là rất quan trọng. Các chương trình hỗ trợ và giáo dục cũng cần được triển khai rộng rãi để giúp họ hòa nhập tốt hơn.

3.1. Nâng cao nhận thức xã hội về quyền của người khuyết tật

Cần tổ chức các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền của người khuyết tật. Việc giáo dục từ nhỏ về sự tôn trọng và bình đẳng sẽ giúp thay đổi cách nhìn nhận của xã hội đối với người khuyết tật.

3.2. Cải thiện hệ thống pháp luật và chính sách hỗ trợ

Cần rà soát và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến người khuyết tật. Các chính sách hỗ trợ cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, đảm bảo rằng người khuyết tật có thể tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền của người khuyết tật

Nghiên cứu về quyền của người khuyết tật đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc cải thiện đời sống của họ. Các chương trình hỗ trợ đã giúp nhiều người khuyết tật có cơ hội học tập, làm việc và tham gia vào các hoạt động xã hội. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để đảm bảo rằng các quyền lợi của họ được thực thi đầy đủ.

4.1. Kết quả từ các chương trình hỗ trợ người khuyết tật

Nhiều chương trình hỗ trợ đã được triển khai, giúp người khuyết tật có cơ hội học tập và làm việc. Các tổ chức phi chính phủ cũng đã đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật.

4.2. Đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật

Cần có các báo cáo định kỳ để đánh giá thực trạng thực thi quyền của người khuyết tật. Việc này sẽ giúp nhận diện những vấn đề còn tồn tại và đưa ra các giải pháp kịp thời.

V. Kết luận và tương lai của quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Quyền của người khuyết tật tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai của quyền lợi này phụ thuộc vào sự nỗ lực của cả xã hội trong việc tạo ra một môi trường không rào cản. Cần tiếp tục thúc đẩy các chính sách và chương trình hỗ trợ để đảm bảo rằng người khuyết tật có thể sống và phát triển như những công dân bình thường khác.

5.1. Tương lai của quyền của người khuyết tật Những kỳ vọng

Kỳ vọng vào một xã hội không rào cản, nơi mà người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ vào mọi hoạt động của xã hội. Cần có sự đồng lòng từ cộng đồng và Nhà nước để hiện thực hóa điều này.

5.2. Những giải pháp cần thiết để bảo vệ quyền của người khuyết tật

Cần có những giải pháp cụ thể và khả thi để bảo vệ quyền của người khuyết tật. Việc xây dựng các chính sách hỗ trợ, nâng cao nhận thức và cải thiện hệ thống pháp luật là rất quan trọng.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền của người khuyết tật nhìn từ góc độ lịch sử văn hóa pháp lý và thực tiễn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1. Quan điểm, chủ trương, chính sách về quyền của người khuyết tật 1. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền của người khuyết tật Trong tiến trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, người khuyết tật luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội chăm sóc và giúp đỡ. Đại hội Đảng lần thứ VI chỉ rõ: Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối với toàn dân, theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", mở rộng và phát triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn.

Nghiên cứu bổ sung chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội [52]. Quan điểm của Đảng nêu trên đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng đến các đối tượng bảo trợ xã hội, trong đó có người khuyết tật. Tiếp theo đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6/1991) đã cũng chỉ rõ: "Không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên trong xã hội. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" [53].

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục nhấn mạnh: "Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật" và "tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật" [54]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc ban hành Dự án Luật nhằm cụ thể hóa cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, từng bước luật pháp hóa các quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và các chính sách liên quan đến người khuyết tật, tạo môi trường pháp lý, điều kiện và cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với người khuyết tật [54]. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: Mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế [55]. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã nêu quan điểm xây dựng Luật Người tàn tật là phải thể hiện rõ truyền thống thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách của người Việt Nam; phải thể chế hóa được tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về người tàn tật; làm rõ quyền và trách nhiệm của người tàn tật, tạo điều kiện để họ phát huy khả năng tàn nhưng không phế, có chế tài kèm theo; làm rõ chức năng quản lý của Nhà nước về người tàn tật; xã hội hóa việc chăm sóc, trợ giúp người tàn tật.

Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều khẳng định người khuyết tật là công dân, thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân, được chung hưởng thành quả xã hội. Vì khuyết tật, người khuyết tật có quyền được xã hội trợ giúp để thực hiện quyền bình đẳng và tham gia tích cực vào đời sống xã hội, đồng thời vì khuyết tật họ được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân. Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 10 quy định: "Người già, người tàn tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ" [66, Điều 67]; "Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật được học văn hóa và học nghề phù hợp" [66, Điều 59]. Đồng thời khẳng định mọi thành viên, bao gồm cả người khuyết tật đều được nhà nước bảo đảm quyền công dân như nhau và đều được hưởng các thành quả chung của sự phát triển xã hội.

Ngày 09 tháng 01 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/2006/CT-TTg về việc đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người tàn tật, theo đó Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho các Bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật, trong đó giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Tiếp tục rà soát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, đề xuất biện pháp sửa đổi, bổ sung hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi bổ sung các chính sách đối với người tàn tật. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ Đề án hỗ trợ người tàn tật giai đoạn 2006-2010; tổ chức thực hiện Đề án sau khi được phê duyệt [40]. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 239/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/10/2006 về phê duyệt Đề án trợ giúp người tàn tật giai đoạn 2006-2010. Ngày 30 tháng 7 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về Người tàn tật.

Pháp lệnh gồm có 35 điều, 8 chương. Với quan điểm chỉ đạo Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia các hoạt động xã hội. Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật. Pháp lệnh đã quy định nội dung, nguyên tắc, tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và chính quyền các cấp đảm người tàn tật thực hiện các quyền và trách nhiệm của người tàn tật và sống hòa nhập cộng đồng xã hội; gia đình người tàn tật thực hiện các trách nhiệm bảo vệ, nuôi dưỡng chăm sóc giúp đỡ người khuyết tật của gia đình; Nhà nước và xã hội đối thực hiện các chương trình, đề án, chính sách đối với người tàn tật trên các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và nuôi dưỡng, học văn hóa, học nghề và việc làm, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và sử dụng công trình công cộng… đối với người tàn tật.

Sự ra đời của Pháp lệnh về người tàn tật đã góp phần vào cải thiện đời sống của người khuyết tật, đồng thời có nhiều thay đổi tích cực về mặt kinh tế, xã hội. Pháp lệnh cũng là cơ sở pháp lý, nguyên tắc để Chính phủ, các Bộ, ngành đưa cá vấn đề liên quan đến người khuyết tật vào các Luật chuyên ngành để trình quốc hội thông qua, đồng thời xây dựng và ban hành các chính sách, chương trình, dự án đề án trợ giúp người tàn tật hòa nhập cộng đồng, tổ chức huy động nguồn lực quốc tế, trong nước trợ giúp người tàn tật có hiệu quả. Để người khuyết tật được hưởng đầy đủ và bình đẳng các quyền con người, quyền tự do cơ bản mang tính toàn cầu và tạo điều kiện tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; đồng thời xây dựng xã hội không rào cản, theo cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện Thập kỷ lần thứ II về người khuyết tật và yêu cầu hội nhập, cần nghiên cứu xây dựng luật để thay thế Pháp lệnh về người tàn tật. Do vậy, tại kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật người khuyết tật, góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống chính sách dành cho người khuyết tật.

Trong những năm qua, chính sách của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật được thể chế hóa trong các quy phạm pháp luật, đã tạo ra khung 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp lý về quyền của người khuyết tật, trách nhiệm của các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương trong việc bảo đảm các quyền của người khuyết tật. Tuy nhiên theo đánh giá về tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về người khuyết tật còn có nhiều tồn tại nhất định, cụ thể: Thứ nhất, hệ thống các văn bản chưa đồng bộ, chưa quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ, còn chưa tiếp cận được với các yêu cầu của Công ước quốc tế về người tàn tật, chưa dựa trên nhu cầu thực tế của người khuyết tật trong xã hội. Thứ hai, quy định về các chính sách hỗ trợ người khuyết tật về y tế, giáo dục, dạy nghề, việc làm, tiếp cận các công trình công cộng chưa phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật, đã tạo ra sự phân biệt đối xử cho người khuyết tật với người khác. Điều đó, đã làm cho người khuyết tật tự mình tách biệt ra khỏi cộng đồng bởi tâm lý tự ti, xấu hổ.

Thứ ba, công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện các vấn đề về người khuyết tật, về hoạt động của các cơ quan, các tổ chức liên quan đến người khuyết tật. Dẫn đến, hoạt động không hiệu quả, không triệt để, rộng khắp đến những người khuyết tật. Thứ tư, chưa có chính sách hoàn chỉnh về xã hội hóa việc trợ giúp người khuyết tật, vì thế chưa huy động được nguồn lực lớn mạnh trong xã hội, chưa tạo được mối quan tâm của xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, giúp đỡ người khuyết tật Trong các giá trị truyền thống Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái là những nét hết sức đặc sắc.

Hồ Chủ tịch thường nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền của Người Khuyết Tật: Lịch Sử, Văn Hóa và Thực Tiễn Pháp Lý" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi của người khuyết tật, từ lịch sử hình thành đến các khía cạnh văn hóa và pháp lý hiện hành. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật trong xã hội, đồng thời chỉ ra những thách thức mà họ phải đối mặt. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về cách thức mà pháp luật có thể hỗ trợ và cải thiện cuộc sống của người khuyết tật, từ đó nâng cao nhận thức và khuyến khích hành động tích cực trong cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật 2006 và vấn đề nội luật hoá trong pháp luật việt nam phần 2, nơi phân tích sâu về các công ước quốc tế và sự áp dụng của chúng tại Việt Nam. Bên cạnh đó, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại việt nam hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình xây dựng pháp luật liên quan đến người khuyết tật. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về dạy nghề đối với người khuyết tật ở việt nam cung cấp cái nhìn về các chính sách dạy nghề và hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật, mở ra cơ hội cho họ trong việc hòa nhập xã hội.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền của người khuyết tật mà còn mở rộng kiến thức về các chính sách và thực tiễn liên quan.