CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VÁN ĐẺ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VẺ BẢO ĐẢM QUYẺN CỦA NGƯỜI KHUYÉT TẬT TRONG XÂY DỰNG VAN BẢN QUY PHAM PHAP LUẬT 11. Khái quát chung về người khuyết tật 1. Khái niệm người kluyết tat Khuyét tat la hiện tượng tự nhiên đã xuất hiện từ xa xưa và vẫn luôn tôn tai trong suốt bao đời nay. Khuyét tật tạo nên sự đa dang cho tự nhiên và công đồng.
Nhà nước, xã hội và tắt cả mọi người phải thừa nhận vả tôn trọng sư khác biệt này. “Khuyét tat” hay cụm “người khuyết tật” đều được nhắc tới trong rat nhiều văn bản, mỗi văn bản trên thé giới lại đưa ra những nhận định khác nhau về hai cụm từ trên Đi từ gôc của thuật ngữ “khuyết tat”, trong các văn bản quốc tế thường dùng hai từ “disability” va “handicap”. Hai từ nay ban dau được sử dụng nhiêu va phô bién, tuy nhiên trong quá trình áp dung lại dễ lẫn lộn với nhau. Cho dén năm 1080, Tô chức Y tế Thể giới - WHO đã thông qua sự phân loại trên pham vi quốc tê va phát triển sử dụng thuật ngữ “impairment” thay thé.
Số tay về Phân loại quéc tê về Khiém khuyết, Khuyết tật và Tan tật (ICIDH) do WHO ban hành đã thé hiện sự phân biệt, phân cap quan trọng về những cách goi trên. Theo đó, “impairment” theo Tiếng Việt là khiêm khuyết nói chung, “Disablity” la “tan tật”, “giảm khả năng” hoặc “không có khả nang”, “Handicap” là “tan phể” hay “tinh trạng tật nguyên nghiêm trong Tuy nhiên trong thời gian sử dụng, việc phân loại nay van dẫn đến su nhâm lẫn vi cách phân biệt trên mới chỉ dừng lại ở khía cạnh mô hình y tê. Sau nhiêu năm sửa đổi, hoản thiện, đến năm 2001, WHO đã phê duyệt ban hanh đôi tên thành Bang phân loại Phân loại quốc tê và Chức năng, khuyết tật va Sức khöe. Mô hình ICF (Intemational Classification of Functioning, Disability and Health) đưa ra khái niêm rằng mức độ chức năng của một người là một môi quan hệ tương tác, tac động giữa 6 tính trạng sức khỏe của người đó với các yếu tô môi trường và các yếu tô ca nhân Đây là một mô hình sinh lý - tâm lý - x4 hội, dựa trên sự kết hợp các mô hình xã hội và can thiệp.
Theo mô hình nảy, WHO định nghĩa khuyêt tật như sau: Knuyét tat là thuật ngữ chung chi tính trang khiêm khuyết, hạn chế van đông và hạn chễ tham gia Nó biểu hiên những mặt tiêu cực trong quan hê tương tác giữa tính trang sức khỏe của cá nhân với các yêu tỗ hoàn cảnh của người đó (bao gồm yêu tô môi trường và các yêu tô cá nhân khác). Ngôn ngữ hiện nay (trong tiếng Việt) it khi nao sử dung từ “khuyết tật” đi với một sự việc, đô vật, tính huông nao. Từ “khuyết tật” thường di cùng với nhóm các từ ngữ chỉ về con người như: người khuyết tật, khuyết tật não, cơ thể khuyết tat,. Tử đó ma có nhiêu định nghĩa khác nhau đi theo cả cum từ “người khuyết tat” được đưa ra thao luận Người khuyết tật là nhóm người dé bi tôn thương, la một bộ phận dân cư va tôn tại khách quan trong lich sửloài người.
Ngân hang thé giới ước tinh có khoảng 10% dan số thé giới (khoảng 650 triệu người) phải sông chung với những khuyết tat và có sư khác nhau giữa các vùng, các nước và chủ yếu tập trung ở các nước kém phát triển Theo sô liệu báo cáo, ước tính mỗi năm có thêm gan 10 triệu người khuyết tat va dự báo đến năm 2035 sô người khuyết tật trên thé giới sẽ lên tới 667 triệu người. Tại Việt Nam, theo cuộc tông điều tra quéc gia, hiện nay có 6,2 triệu người khuyết tật theo mẫu 35.074 địa bản, trên 1.074 xã/phường (trong đó có 144 xã nghéo, vùng sâu vùng xa), với 658 trên tông số 713 quận/huyện của 63 tinh va thánh phô trực thuộc Trung ương. Thuật ngữ người khuyết tật là một khái niệm dé thay đôi, tùy thuộc vào hoản cảnh lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội khác nhau mả có những cách hiểu khác nhau. CRPD dùng thuật ngữ “people with disabilities” (người có khuyết tật) thay cho “disabled persons” (người tan tat) vôn được sử dung khá phô biến trước đây! Cách gọi nay thé hiện đúng hơn thực trạng của người mang những khiếm khuyết vé thé chất va tinh thân vả không mang cảm giác miệt thi.
Pháp luật Việt Nam quy định về người khuyết tật cũng có sự thay đôi theo thời gian. Các vân đề liên quan đến người khuyết tật được ghi nhận đâu tiên trong các bản Hiền pháp của Việt Nam từ trước cho đến nay. Van dé nay được ghi nhận tại Điều 14 Hiền pháp năm 1946; Điêu 32 Hiến pháp năm 1950, Điêu 50, Điều 67, Điều 74 Hiến pháp năm 1002 và tat cả các văn bản trên déu sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”. Một sô văn bản khác như Pháp lệnh người tan tật năm 1998; Bộ luật Lao đông năm 1994, Nghị định số 81-CP ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dan thi hành một sô điêu của B ô luật lao động về người tan tat; Luật Bao vệ sức khoé nhân dân năm 1080 déu sử dung thuật ngữ “người tan tat”; Luat Bảo vê, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1901, Luật Phô cập giáo duc tiểu học năm 1991 sử dụng thuật ngữ “trẻ em tan tat”.
Thực ra cách gọi nảy là phù hợp với các văn bản của Liên hợp quốc và Tô chức Lao đông Quốc tê ở thời điểm đó Đến năm 2001, Quốc hôi ban hành Nghị quyết sô 51/QH10 về việc sửa đổi, bố sung một số điêu của Hiên pháp năm 1992, trong đó sửa đôi Điều 59 dùng từ “khuyết tật” thay cho từ “tan tat”. Sau nay trong Hiền pháp 2013 va nhiêu luật chuyên ngành khác như Luật Người khuyết tat năm 2010; Bé luật Lao đông năm 2012;. đã thông nhất sử dụng thuật ngữ “người khuyết tat”. Sự thay đôi trên là hop lý, không chi thay đổi vê mặt từ ngữ ma còn thay đôi về mặt nội ham của khái niệm?.
Đặc biệt trong ngôn ngữ Tiếng Việt, từ “tân” trong từ “tan tật” mang suy nghĩ tiêu cực, thể hiện sự tản phê, khôn gtheer chữa trị, thuyên giảm của bênh tật. Trong khi đó từ “khuyết” tạo cảm giác chỉ mất một phân nhỏ, không đáng kể, mang hình thái tích cực hơn. Thuật ngữ “người ' Ton dd vé QuyÖn cũa người Hugiét tật DRDP- Declaration onthe Rights of Disabled Persons), được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày09/12/1975, Nghị quyết số 37/52 ngày 05/12/1982 của Đại hội đồng Liên họp quốc về Cương trink Hinh động quốc tế vé người Moết tật (World Programme of Action Concerning Disabled Person) six dmg thuật ngit “disabled persons”. ˆ Nguyễn Hiền Phương (chủ biên), Binh hận vi quyền của người khuyết tit theo Công ước quốc tế và thực trạng nội hật hoá ở Việt Nam, tr 8 § khuyết tật” chỉ xác định sự khiếm khuyết chức năng của bộ phận nao đó trong cơ thé của một người ma không ham nghĩa là người “vô dụng” như thuật ngữ “người tàn tật”.
Việc các quốc gia sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật” là phù hợp với xu hướng chung hiện nay. Những năm 1950, người khuyết tật được nhìn nhận theo mô hình “chăm sóc y tể”, theo đó van dé người khuyết tật là van đê phúc lợi xã hôi và ho lả đôi tượng can được hỗ trợ, chăm sóc, được hưởng trợ giúp chứ không phải lả chủ thể có quyên như công dân bình thường thì đến năm 1970 cách nhìn nhận người khuyết tat đã có sự thay đôi, theo đó những người khuyết tật là những người có khả năng, có quyên sông va lao động như những người bình thường chứ không phải đối tương cân nhận sự giúp đỡ từ xã hôi. Trên thé giới ghi nhận nhiêu quan điểm khác nhau về người khuyết tật. Công ước về quyền của người faye tat năm 2006 ghi nhận: “thea nhân rằng sự khuất tật là một khái “người khuyễt tat bao gồm những người có khiêm khuyét lâu dài về thé chất, tâm than, trí tué hay giác quan mà khi tương tác với những rào can khác nham có thé phương hai đến sự tham gia hữft hiệu và tron ven của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những Trong một số van ban của Tô chức Lao đông Quốc té (ILO) cũng có sự quy định khác nhau về thuật ngữ “người khuyết tật”.
Theo Khuyén nghị số 99 của ILO về phuc hôi chức năng nghề nghiệp cho người khuyết tat năm 1055 thì người khuyết tật có nghĩa là “môi cá nhiên có triên vong dam bdo và duy tri việc làm phù hợp giảm đáng kế đo suy yếu về thé chất hoặc tinh than”. Theo Công ước số 159 của ILO về phục hôi chức năng lao động và việc lam cho người khuyết tat năm 1083, thuật ngữ “người khuyết tat” dùng dé chỉ “môi cá nhân có triển vong bảo đảm, duy trì thăng tiến trong công việc phù hop bị gidm đáng kê do sự suy yếu về thé chất hoặc tinh than được công nhâm hợp lệ“, Khuyến nghị số 168 của ILO về Phục hôi chức năng lao đông và việc làm cho người khuyết tật 1083, thuật ngữ “người khuyết tật chỉ một cá nhân mà trién 9 vong tim và duy trì được việc làm thích hop, cũng như triển vọng tiễn bộ về mat nghề nghiệp đều bị giảm đi một cách rõ rệt, do một kiuyét tật về thê chất hoäc tâm thần được công nhận rõ ràng3 Tại Điều 2, khoản 1, Luật Người khuyết tật được Quốc Hội nước Cộng hoa xa hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17 thang 06 năm 2010 đưa ra định nghia về người khuyết tật như sau: “Người huyết tật là người bị khiêm kimyết một hoặc nhiều bộ phân co thé hoặc bị suy giảm chức năng được biéu hiện dưới dang tật khiến cho lao động. học tap gặp khó khăn” Xét về nội hàm thuật ngữ “người khuyết tat” trong pháp luật quốc tê và quốc gia hiện nay đang được tiếp cận theo hai quan điểm là quan điểm khuyết tật dudi góc đô y tế và quan điểm khuyết tật theo mô hình xã hôi. Từ những cách nhìn nhận khác nhau về người khuyết tật cùng với điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử phát triển cũng như kĩ thuật lập pháp timg quốc gia mà pháp luật quốc tế cũng như quốc gia có định nghĩa khác nhau về người khuyết tật Thứ nhất, quan điểm khuyết tat đưới góc độ y tế.
Theo quan điểm nay cho rằng những khiêm khuyết về sức khỏe lả đo từ cá nhân người đó, những khiếm khuyết nay lam ảnh hưởng dén cuộc sông của họ. Ngoài ra, dé có thể khắc phục những khiêm khuyết nay thì cân có sự nỗ lực của cá nhân đó.