Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay" do sinh viên Nguyễn Lý Thu Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Bùi Thị Đào tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024), thuộc chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật. Đề tài được đặt trong bối cảnh Nhà nước Việt Nam đang không ngừng hoàn thiện thể chế và chính sách pháp luật nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật".
Thực tiễn cho thấy người khuyết tật là nhóm xã hội dễ bị tổn thương, với khoảng 40% người khuyết tật không được đáp ứng nhu cầu hỗ trợ đối với các hoạt động sinh hoạt thường ngày. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản pháp luật trợ giúp người khuyết tật khắc phục khó khăn và hòa nhập cộng đồng, quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật qua các giai đoạn (lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét thông qua) vẫn bộc lộ hạn chế. Quyền của người khuyết tật chưa được bảo đảm toàn diện; tiếng nói và sự tham gia đóng góp, phản biện của người khuyết tật cùng các tổ chức đại diện của họ chưa được ghi nhận đầy đủ trong hệ thống văn bản pháp luật. Do đó, việc nghiên cứu các cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng quy trình lập quy và đề xuất giải pháp là đòi hỏi cấp thiết.
Tác giả xác định mục đích nghiên cứu ở hai phương diện:
- Về nội dung nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; tìm hiểu pháp luật hiện hành, đánh giá thực trạng và rút ra các giải pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật trong hoạt động này tại Việt Nam hiện nay.
- Về sản phẩm của đề tài: Đóng góp nguồn tài liệu phục vụ quá trình học tập, nghiên cứu của sinh viên, giảng viên tại Trường Đại học Luật Hà Nội cùng các cơ sở đào tạo luật khác.
Để hiện thực hóa mục đích trên, khóa luận triển khai 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Kế thừa và khẳng định rõ ràng hơn những khái niệm, nội dung quyền của người khuyết tật, bảo đảm quyền của người khuyết tật.
- Cụ thể hóa từng bước của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc bảo đảm quyền của người khuyết tật.
- Khẳng định tầm quan trọng của người khuyết tật trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Phân tích những vấn đề xoay quanh pháp luật cũng như xã hội về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong thực tiễn bảo đảm quyền của người khuyết tật ở quy trình lập quy.
- Đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giải quyết các bất cập trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm quyền của người khuyết tật.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm:
- Các quan điểm, nhận thức lý luận về quyền của người khuyết tật và việc bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng pháp luật.
- Các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Thực trạng thi hành và bảo đảm quyền của người khuyết tật trong các giai đoạn của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian và nội dung: Tập trung vào hệ thống pháp luật và quy trình lập quy tại Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2010 (thời điểm Luật Người khuyết tật năm 2010 được thông qua và có hiệu lực thi hành) đến năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận quyền của người khuyết tật từ nền tảng quyền con người được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và pháp luật quốc gia. Tác giả đối chiếu và phân tích sự chuyển dịch nhận thức từ "mô hình y tế" (nhìn nhận khuyết tật là khiếm khuyết cá nhân cần chữa trị, cứu trợ) sang "mô hình xã hội" và mô hình kết hợp sinh lý - tâm lý - xã hội theo Bảng phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) năm 2001 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thay thế cho Sổ tay ICIDH năm 1980. Ở góc độ luật học, tác giả phân tích khái niệm người khuyết tật theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 (CRPD), định nghĩa tại Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010, cùng tiêu chí phân loại mức độ khuyết tật (đặc biệt nặng, nặng, nhẹ) tại Điều 3 Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.
Hệ thống văn bản pháp lý quốc tế làm nền tảng tham chiếu gồm có: Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR 1948), Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966), Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR 1966), Công ước CEDAW (Điều 11), Công ước CRC về Quyền trẻ em (Điều 23), Tuyên bố Viên và Chương trình hành động năm 1993, Khuyến nghị số 99 (1955), Công ước số 159 (1983) và Khuyến nghị số 168 (1983) của ILO.
Về hệ thống văn bản pháp luật trong nước, đề tài khảo cứu sự phát triển qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1992, Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013); Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Luật Người khuyết tật năm 2010; Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019 (Khoản 2 Điều 159); Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật Giao thông đường bộ năm 2008; Nghị định số 20/2021/NĐ-CP; Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 1190/QĐ-TTg) và Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư.
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng xuyên suốt đề tài gồm:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận về quyền của người khuyết tật, cấu trúc quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và hiện trạng quy định pháp luật liên quan.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Áp dụng để so sánh các quy định pháp luật trong nước với chuẩn mực quốc tế (CRPD, ILO), đối chiếu sự thay đổi thuật ngữ pháp lý từ "người tàn tật" sang "người khuyết tật" qua các thời kỳ lập hiến và lập pháp tại Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: Được vận dụng ở giai đoạn đánh giá toàn diện các giai đoạn lập quy, xâu chuỗi các số liệu thực tiễn và khái quát hóa thành nhóm giải pháp đồng bộ.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:
- Dữ liệu thống kê quốc gia: Kết quả Cuộc Tổng điều tra quốc gia về người khuyết tật (khảo sát trên 35.074 địa bàn tại 1.074 xã/phường thuộc 658 quận/huyện của 63 tỉnh, thành phố); số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới và Tổ chức Y tế Thế giới.
- Báo cáo chính thức từ cơ quan nhà nước: Báo cáo số 01/BC-BTP ngày 01/01/2021 của Bộ Tư pháp tổng kết công tác tư pháp năm 2020; Báo cáo của Bộ Y tế ngày 16/3/2020 tại phiên họp thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội về dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi).
- Tài liệu hội thảo chuyên ngành: Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia "Công tác xã hội với người khuyết tật" ngày 20/12/2020 do Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương và Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức; biên bản các phiên tọa đàm tham vấn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về người khuyết tật và cơ chế bảo đảm quyền của họ trong quy trình lập pháp, lập quy:
- Khái quát và sự phát triển thuật ngữ: Tác giả chỉ ra sự tiến hóa từ thuật ngữ mang nghĩa tiêu cực "handicap" / "người tàn tật" trong Hiến pháp 1946, 1959, 1992 sang thuật ngữ chuẩn hóa "people with disabilities" / "người khuyết tật" từ Nghị quyết số 51/2001/QH10, Luật Người khuyết tật năm 2010 và Hiến pháp năm 2013. Tác giả phân định hai hướng tiếp cận: tiếp cận y tế thuần túy và tiếp cận xã hội (loại bỏ rào cản môi trường và thái độ). Theo số liệu dẫn chứng, thế giới có khoảng 10% dân số (khoảng 650 triệu người) là người khuyết tật, mỗi năm tăng thêm gần 10 triệu người và dự báo đạt 667 triệu người vào năm 2035; tại Việt Nam hiện có 6,2 triệu người khuyết tật.
- Khái niệm và nội hàm quyền của người khuyết tật: Quyền của người khuyết tật bao gồm đầy đủ các quyền cơ bản của con người (bình đẳng trước pháp luật, quyền sống, an toàn cá nhân...) cùng hệ thống quyền đặc thù phù hợp dạng tật và mức độ khuyết tật theo Điều 4 Luật Người khuyết tật năm 2010 và các điều 5, 25, 28 của CRPD (tiếp cận hạ tầng, giao thông, giáo dục hòa nhập, việc làm, phục hồi chức năng, bảo trợ xã hội và mức sống thỏa đáng).
- Bảo đảm quyền trong từng giai đoạn xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Khóa luận chia tách và phân tích các yêu cầu bảo đảm quyền qua 4 giai đoạn cụ thể:
- Giai đoạn lập đề nghị: Phải đánh giá tác động chính sách toàn diện, chứng minh tính cấp thiết dựa trên cơ sở chính trị (Chỉ thị 39-CT/TW), cơ sở thực tiễn (huy động viện nghiên cứu, chuyên gia, tổ chức người khuyết tật) và cơ sở pháp lý.
- Giai đoạn soạn thảo: Cơ cấu ban soạn thảo cần chuyên gia hiểu biết sâu sắc về quyền của người khuyết tật; xây dựng đề cương sơ lược, đề cương chi tiết và dự thảo bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và khả thi.
- Giai đoạn lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra: Huy động sự tham vấn trực tiếp của cộng đồng và các tổ chức đại diện người khuyết tật nhằm nhận diện các khoảng trống chính sách và bất cập kỹ thuật lập pháp.
- Giai đoạn trình, thông qua, ban hành: Rà soát tổng thể để các điều khoản thi hành bảo đảm nguồn lực thực hiện quyền trên thực tế.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Khóa luận xác định 4 nhóm yếu tố chi phối: nhận thức của cán bộ tham gia xây dựng văn bản; nhận thức và tâm lý tự ti của tổ chức, cá nhân người khuyết tật; sự lãnh đạo, định hướng đường lối của Đảng; điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cùng trình độ ứng dụng khoa học - công nghệ.
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Chương 2 đánh giá thực chứng công tác bảo đảm quyền của người khuyết tật trong quy trình xây dựng văn bản tại Việt Nam thông qua các số liệu và sự kiện lập quy cụ thể:
- Kết quả đạt được qua các giai đoạn quy trình:
- Giai đoạn lập đề nghị: Hoạt động đánh giá tác động chính sách đối với nhóm yếu thế dần được chú trọng. Năm 2020, Bộ Tư pháp đã thẩm định 28 đề nghị xây dựng luật, kịp thời phát hiện và kiến nghị điều chỉnh các chính sách liên quan trực tiếp đến nhóm yếu thế.
- Giai đoạn soạn thảo: Vị thế của người khuyết tật được nâng lên. Điển hình, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Quyết định số 1147/QĐ-LĐTBXH (ngày 31/8/2016) thành lập Ban soạn thảo và Quyết định số 1162/QĐ-LĐTBXH (ngày 16/9/2016) thành lập Tổ biên tập xây dựng Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong bảo trợ, cứu trợ xã hội và chăm sóc trẻ em khuyết tật. Công tác thẩm tra sơ bộ dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) ngày 06/3/2020 tại Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội là minh chứng cho việc kiểm soát quyền tiếp cận dịch vụ y tế của người bệnh và người khuyết tật.
- Giai đoạn lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra: Hình thức lấy ý kiến ngày càng đa dạng (cổng thông tin điện tử, văn bản xin ý kiến, hội thảo, tọa đàm). Các tổ chức như Hội Người mù Việt Nam, Hội Người điếc Việt Nam, Viện Nghiên cứu phát triển cộng đồng (ACDC), Hội Trợ giúp người khuyết tật Việt Nam (VNAH), Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD) đã tham gia đóng góp phản biện chính sách quan trọng (như quy hoạch hệ thống giáo dục hòa nhập giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; tiêu chí giao thông tiếp cận phổ quát; bảo hiểm y tế).
- Giai đoạn trình, thông qua, ban hành: Hệ thống thể chế được kiện toàn với việc ban hành Chỉ thị số 39-CT/TW của Ban Bí thư năm 2019; Chương trình trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2021-2030 (Chương trình 1190 ban hành tháng 8/2020); Nghị định số 20/2021/NĐ-CP (ban hành ngày 15/3/2021). Vai trò điều phối liên ngành được xác lập qua Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam (thành lập từ năm 2015 sau khi Việt Nam phê chuẩn CRPD).
- Những hạn chế và nguyên nhân:
- Báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) đối với người khuyết tật ở giai đoạn lập đề nghị còn sơ sài, mang nặng tính hình thức và suy đoán chủ quan; thiếu các nghiên cứu định lượng, tính toán tác động kinh tế - xã hội chuyên sâu.
- Tồn tại khoảng trống pháp lý và sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản luật: Điển hình, Điều 42 Luật Người khuyết tật năm 2010 mới chỉ dừng ở việc quy định tiếp cận đối với phương tiện giao thông công cộng, hoàn toàn thiếu vắng các quy chuẩn kỹ thuật an toàn bắt buộc đối với công trình cơ sở hạ tầng giao thông (vỉa hè, lối đi bộ, cầu vượt, hầm bộ hành), dẫn đến xung đột và thiếu đồng bộ với Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
- Cơ chế thực thi quyền tham vấn của người khuyết tật và các tổ chức đại diện theo Điều 9 Luật Người khuyết tật năm 2010 và Điều 159 Bộ luật Lao động năm 2019 chưa được cụ thể hóa thành các quy trình bắt buộc, khiến việc tiếp thu ý kiến đóng góp đôi khi còn mang tính hình thức.
Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Dựa trên kết cấu đề tài, Chương 3 đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp cơ bản nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thực tiễn:
- Giải pháp về mặt pháp lý: Rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật chưa tương thích giữa Luật Người khuyết tật năm 2010 với các luật chuyên ngành (Luật Giao thông đường bộ, Luật Xây dựng, Bộ luật Lao động); luật hóa quy trình bắt buộc về đánh giá tác động chính sách đối với người khuyết tật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
- Giải pháp về tổ chức bộ máy và nhân sự: Kiện toàn năng lực, nâng cao chuyên môn và nhận thức của đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng thể chế; phát huy hiệu quả hoạt động điều phối của Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam; chuẩn hóa quy trình tham gia của các tổ chức đại diện người khuyết tật trong các Ban soạn thảo và Tổ biên tập.
- Giải pháp về điều kiện cơ sở vật chất, tài chính: Bảo đảm ngân sách nhà nước cho hoạt động nghiên cứu, khảo sát thực tế phục vụ lập quy; đầu tư nền tảng công nghệ số và tài liệu lập pháp dưới dạng tiếp cận được (chữ nổi Braille, ngôn ngữ ký hiệu, định dạng âm thanh) để người khuyết tật tiếp cận và đóng góp ý kiến dự thảo thuận lợi.
- Giải pháp về công tác truyền thông: Đẩy mạnh tuyên truyền nhằm xóa bỏ rào cản định kiến xã hội, nâng cao nhận thức của cộng đồng và chính bản thân người khuyết tật về quyền tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích hệ thống dữ liệu thực chứng phản ánh kết quả triển khai chính sách trợ giúp người khuyết tật tại Việt Nam:
| Chỉ số / Hoạt động thực tiễn |
Số liệu thống kê trích xuất từ văn bản |
| Quy mô người khuyết tật tại Việt Nam |
6,2 triệu người (theo mẫu điều tra tại 35.074 địa bàn, 1.074 xã/phường, 658 quận/huyện) |
| Ngân sách bố trí hỗ trợ giáo dục cho người khuyết tật (năm 2019) |
131 tỷ đồng |
| Hỗ trợ tín dụng việc làm qua Ngân hàng Chính sách xã hội |
2,2 nghìn người khuyết tật được tiếp cận vay vốn tạo việc làm |
| Kết quả tạo việc làm của Hội Người mù Việt Nam |
Giao gần 51 tỷ đồng tại 51 tỉnh/thành phố, hỗ trợ gần 10.000 hộ, tạo việc làm cho trên 13.000 lao động khiếm thị |
| Hoạt động trợ giúp của Hội Bảo trợ NKT và Trẻ mồ côi Việt Nam |
Giúp đỡ 4,1 triệu lượt người khuyết tật, trẻ mồ côi và bệnh nhân nghèo |
| Hoạt động sinh kế của VP Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật |
Hỗ trợ sinh kế cho trên 150 gia đình tại 8 tỉnh, thành phố |
| Công tác thẩm định đề nghị xây dựng luật của Bộ Tư pháp (năm 2020) |
Thẩm định 28 đề nghị, lồng ghép kiểm tra chính sách bảo đảm quyền nhóm yếu thế |
| Mạng lưới khám chữa bệnh toàn quốc (báo cáo thẩm tra sơ bộ năm 2020) |
Gần 50.000 cơ sở (248 bệnh viện tư nhân, 21.048 phòng khám tư nhân), hơn 80.000 bác sĩ (đạt 8,2 bác sĩ/10.000 dân) |
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc:
- Khái quát hóa và hệ thống hóa lý luận về bảo đảm quyền của người khuyết tật từ chuẩn mực quốc tế (CRPD, ICF của WHO) vào bối cảnh cụ thể của quy trình lập quy tại Việt Nam theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
- Chỉ rõ những mâu thuẫn nội tại giữa văn bản chuyên ngành với thực tiễn cơ sở hạ tầng, đặc biệt là sự thiếu hụt quy chuẩn kỹ thuật tiếp cận hạ tầng giao thông đường bộ tại Điều 42 Luật Người khuyết tật năm 2010 trong mối liên hệ với Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
- Khẳng định tính cấp thiết của việc thể chế hóa quyền tham vấn của các tổ chức xã hội của người khuyết tật (Hội Người mù, Hội Người điếc, ACDC, DRD, VNAH) như một khâu bắt buộc trong quy trình đánh giá tác động và soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các văn bản quy phạm pháp luật cốt lõi cấp trung ương từ sau thời điểm Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực; chưa khảo sát định lượng toàn diện quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh). Do tính chất trích đoạn của tư liệu, các phân tích đánh giá thực nghiệm chuyên sâu tại một số khâu soạn thảo chi tiết chưa được thể hiện đầy đủ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng đánh giá cơ chế giám sát độc lập đối với việc thực thi Công ước CRPD tại Việt Nam; nghiên cứu chuyên sâu về các tiêu chí kỹ thuật tiếp cận công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong quy trình lấy ý kiến nhân dân đối với các dự thảo luật; xây dựng bộ chỉ số đánh giá tác động giới và khuyết tật (GDIA) tích hợp trong quy trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các bộ môn Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Nhân quyền, Lý luận Nhà nước và Pháp luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo pháp lý.
- Cán bộ pháp chế tại các bộ, ngành, cơ quan tư pháp và cơ quan tham mưu lập pháp tham khảo khi xây dựng hồ sơ đánh giá tác động chính sách (RIA) đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị định có liên quan đến an sinh xã hội.
- Các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ của người khuyết tật và vì người khuyết tật (như ACDC, DRD, Hội Người mù, Hội Người điếc) sử dụng làm cơ sở luận cứ khi tham gia phản biện xã hội và tham vấn xây dựng chính sách.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân biệt thuật ngữ "người tàn tật" và "người khuyết tật" trong lịch sử pháp luật Việt Nam như thế nào?
Pháp luật Việt Nam trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1992 và các luật chuyên ngành trước năm 2001 dùng từ "người tàn tật" (tương ứng với "handicap" / "disabled persons"), mang sắc thái tiêu cực, thụ động và tàn phế. Từ Nghị quyết số 51/2001/QH10 sửa đổi Hiến pháp 1992, tiếp đến Luật Người khuyết tật năm 2010 và Hiến pháp năm 2013, thuật ngữ được thống nhất đổi thành "người khuyết tật" (tương ứng "people with disabilities"). Sự thay đổi này phản ánh bước chuyển biến từ mô hình y tế thuần túy sang mô hình xã hội, nhìn nhận khiếm khuyết cơ thể khi tương tác với rào cản xã hội mới làm suy giảm khả năng tham gia bình đẳng của cá nhân.
2. Số liệu điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam được tác giả sử dụng có quy mô như thế nào?
Theo số liệu Cuộc Tổng điều tra quốc gia được trích dẫn trong khóa luận, Việt Nam có 6,2 triệu người khuyết tật. Mẫu điều tra được thực hiện trên 35.074 địa bàn tại 1.074 xã/phường (bao gồm 144 xã nghèo, vùng sâu, vùng xa), thuộc 658 trên tổng số 713 quận/huyện của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất về quy chuẩn kỹ thuật giao thông đối với người khuyết tật trong Luật Người khuyết tật năm 2010 là gì?
Đó là khoảng trống pháp lý tại Điều 42 Luật Người khuyết tật năm 2010: điều luật mới chỉ quy định việc bảo đảm tiếp cận liên quan đến phương tiện giao thông công cộng, nhưng hoàn toàn thiếu quy định bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và an toàn giao thông của cơ sở hạ tầng giao thông (như vỉa hè, hè phố, phần đường dành cho người đi bộ, cầu vượt, hầm bộ hành), dẫn đến sự thiếu đồng bộ nghiêm trọng với Luật Giao thông đường bộ năm 2008.
4. Vai trò của Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam được văn bản xác định ra sao?
Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam được thành lập từ khi Việt Nam phê chuẩn CRPD vào năm 2015, do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Chủ tịch, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm Phó Chủ tịch. Đây là cơ quan đầu mối, liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều phối giữa các bộ, ngành, địa phương giải quyết các vấn đề cơ chế, chính sách phục vụ công tác người khuyết tật.
5. Những tổ chức xã hội nào của người khuyết tật được tác giả ghi nhận có đóng góp tích cực trong quá trình góp ý, phản biện dự thảo văn bản pháp luật?
Các tổ chức tiêu biểu được ghi nhận trong văn bản gồm: Hội Người mù Việt Nam, Hội Người điếc Việt Nam, Viện Nghiên cứu phát triển cộng đồng (ACDC), Hội Trợ giúp người khuyết tật Việt Nam (VNAH), và Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Lý Thu Thảo đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và thực trạng thể chế về bảo đảm quyền của người khuyết tật trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 đến nay. Thông qua việc đối chiếu với Công ước CRPD và chuẩn mực quốc tế, công trình đã chỉ rõ những kết quả đạt được cùng các bất cập lớn trong khâu đánh giá tác động chính sách, hạ tầng giao thông tiếp cận và cơ chế tham vấn thực chất. Hệ thống 4 nhóm giải pháp về pháp lý, tổ chức nhân sự, điều kiện vật chất và truyền thông được đề xuất là cơ sở khoa học có giá trị phục vụ công tác hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực lập pháp tại Việt Nam.