Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nước trên thế giới cũng như ở nước ta, vì đó là một nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt và là nguồn cung cấp các sản phẩm phụ như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng 6 năm 2020 giảm 7,5% so với cùng thời điểm năm 2019. Tổng số lợn của cả nước tháng 6/2020 đạt 23,05 triệu con, trong khi tháng 6/2019 đạt 24,92 triệu con. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng ước tính đạt 1.636,9 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 816,2 nghìn tấn, tăng 3,3%).
tổng sản lượng thịt các loại trong ngành chăn nuôi. Theo Cục Thú y, lũy kế từ đầu tháng 2/2019 đến ngày 11/2/2020, bệnh Dịch tả lợn châu Phi (ASF) đã xảy ra tại 8.548 xã thuộc 667 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là gần 6 triệu con với tổng trọng lượng gần 350.000 tấn, chiếm 9% tổng trọng lượng lợn của cả nước. Trong đó, tháng 12/2029 đã buộc phải tiêu hủy 38.172 con, giảm 97% so với tháng 5/2019 (tháng cao điểm, buộc phải tiêu hủy 1,27 triệu con lợn); tháng 1/2020 buộc phải tiêu hủy 12.037 con (giảm 99% so với tháng 5/2019); tháng 2/2020 (đến ngày 11/02/2020), buộc phải tiêu hủy 6. Có 8200 xã (chiếm 96% tổng số xã có dịch) đã qua 30 ngày; trong đó 30 tỉnh, thành phố có 100% số xã đã qua 30 ngày; 29 tỉnh, thành phố có trên 85% số xã đã qua 30 ngày.
Hiện nay có 348 xã thuộc 116 huyện của 33 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 286.532 con chưa qua 30 ngày. Luan van 2 Song đó dịch tả lợn châu Phi đang được kiểm soát, đàn lợn dần được khôi phục nhưng việc tái đàn còn chậm, giá lợn giống ở mức cao khiến các hộ có nguồn vốn hạn hẹp chưa thể khôi phục sản xuất, các hộ có đủ điều kiện lại thận trọng tái đàn do tâm lý lo ngại dịch quay trở lại. Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng Sáu năm 2020 giảm 7,5% so với cùng thời điểm năm 2019. Tổng số lợn của cả nước tháng 6/2020 đạt 23,05 triệu con, trong khi tháng 6/2019 đạt 24,92 triệu con.
Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 6 tháng ước tính đạt 1.636,9 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước (quý II đạt 816,2 nghìn tấn, tăng 3,3%). Với vị trí hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững. Bên cạnh đó là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, qy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng. Chính vì vai trò quan trọng đó, yêu cầu khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn trong chăn nuôi ngày càng trở nên cấp thiết.
Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã đưa các đợt thực tập tốt nghiệp tại cơ sở vào trong chương trình học. Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi tốt nghiệp là rất quan trọng đối với mỗi sinh viên để củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề và rực cháy ngọn lửa đam mê, có phong cách làm việc đúng đắn. Qua đó, chúng tôi nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, khi ra trường trở Luan van 3 thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiến, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái giai đoạn mang thai tại trại lợn Nguyễn Văn Khanh, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Đánh giá tình hình chăn nuôi của trang trại. - Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang bầu. - Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại.
Yêu cầu của chuyên đề - Đánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại. - Thành thạo quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại. - Phân tích được quy trình vệ sinh,phòng và trị một số bệnh thường gặp ở đàn lợn nái tại trại. - Chăm chỉ chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân.
Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Trại lợn Nguyễn Văn Khanh thuộc xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
Trại được xây dựng trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư với tổng diện tích của trại là 5 ha. Các dãy chuồng lợn trong trại được xây dựng theo hướng Đông Bắc. Cách trại 100 m về phía Đông có dòng sông Thái Bình chảy qua, thuận tiện về nguồn nước sản xuất. Bao quanh trại là cánh đồng lúa và cây chuối nên trại hoàn toàn cách ly với khu dân.
Trang trại được xây dựng và thành lập từ năm 2010 do ông Nguyễn Văn Khanh làm chủ đầu tư có sự liên kết với công ty cổ phần Green Feed và công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam. Huyện Thanh Hà nằm ở phía Đông Nam tỉnh, phía Bắc giáp huyện Nam Sách, phía Đông giáp huyện Kim Thành, phía Nam giáp thành phố Hải Phòng, phía Tây giáp thành phố Hải Dương. Huyện được chia làm 4 khu là Hà Nam, Hà Đông, Hà Tây và Hà Bắc. Xã Tiền Tiến thuộc khu Hà Tây của huyện Thanh Hà, có sông Thái Bình (ở phía Tây Nam) chảy qua.
Giao thông bộ có đường 390A chạy từ Ngã Ba Hàng (đường 5 cũ) qua địa phận xã Tiền Tiến về huyện lỵ, xuôi xuống bến Gùa, kéo dài đến phà Quang Thanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Đặc điểm khí hậu Xã Tiền Tiến chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa. Do đó trại lợn Nguyễn Văn Khanh sẽ chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng. Mùa Hè nóng bức với lượng mưa tương đối cao, mùa Đông lạnh và khô.
Luan van 5 Huyện Thanh Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới có một mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh khô, ít mưa và có khí hậu nóng ẩm bao trùm. Do đó trại lợn Nguyễn Văn Khanh cũng chịu ảnh hưởng của khí hậu này. Nhiệt độ trung bình mùa Đông ổn định dưới 20°C, mùa nóng có nhiệt độ trung bình trên 25°C - 27°C. Lượng mưa theo quy ước chung, thời kì có lượng mưa ổn định trên 100 mm tập trung từ tháng 5 đến tháng 10, còn mùa khô có lượng mưa tháng ổn định dưới 100 mm bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Theo số liệu quan trắc, mùa lạnh ở Thanh Hà bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, mùa Hạ nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10. Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Hè (tháng 7) là 12°C. Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển. Cơ cấu tổ chức của trại Trại lợn Nguyễn Văn Khanh: 1 chủ trại Nguyễn Văn Khanh 1 quản lý 1 kỹ thuật chuồng bầu 1 kỹ thuật chuồng đẻ 3 công nhân 5 sinh viên 2.
Cơ sở vật chất của trại - Trại lợn nằm trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư, tổng diện tích của trại là 5 ha, chia làm 2 khu chính riêng biệt là: khu sinh hoạt chung và khu chăn nuôi, ngoài ra còn có hồ cá, thủy đình, vườn cây ăn quả,và vườn hoa phong lan đột biến bạc tỷ của ông Khanh. Trong đó khu sinh hoạt chung gồm: nhà điều hành, phòng ở của chủ trại, phòng ngủ của công nhân, phòng ăn, phòng tiếp khách. Các phòng đều Luan van 6 được lăn sơn, nền lát đá hoa, mái bắn tôn, phòng ngủ có tủ đựng quần áo. Ngoài ra, còn có 2 tủ lạnh ở nhà bếp để cất thức ăn, tivi ở phòng tiếp khách được lắp truyền hình cáp phục vụ nhu cầu giải trí sau giờ làm việc.
Nhà bếp xây dựng khang trang, sạch sẽ, có đầy đủ dụng cụ, có bếp ga để thuận tiện trong việc nấu ăn. Khu chăn nuôi gồm: nhà tắm sát trùng trước khi vào trại, nhà ăn và nghỉ trưa của công nhân, nhà kho chứa cám và kho thuốc thú y, dãy chuồng cách ly dành cho lợn hậu bị, phòng pha chế tinh, chuồng mang thai, chuồng lợn đẻ, chuồng lợn thịt, nơi xử lý phân. - Hệ thống chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng bao gồm: 1 chuồng bầu với 2 dãy chuồng bao gồm 217 ô, mỗi ô có kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô dành cho lợn nái bầu và 6 ô dành cho lợn đực giống với kích thước 4 m × 5 m/ô. Chuồng nái bầu thiết kế theo từng dãy, chúng chỉ cần diện tích nhỏ bằng phần của lợn nái đẻ nằm để di chuyển tiến lùi và nằm không thể quay đầu, có máng ăn cho từng con và vòi uống nước tự động.
1 chuồng đẻ gồm 2 dãy chuồng bao gồm 56 ô có kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô: Chuồng nái đẻ và nuôi con được thiết kế có vùng cho lợn con và vùng cho lợn mẹ riêng biệt để tránh hiện tượng lợn mẹ đè lên lợn con khi chúng nằm. Chuồng chia thành 2 khu vực rõ rệt. Lợn nái nằm và di chuyển ở giữa, có khung khống chế. Có máng ăn cho lợn mẹ và vòi uống nước tự động, các thanh chắn có độ cao hợp lý.
Hai bên vùng lợn nái nằm là lợn con hoạt động. Nền chuồng của lợn con thiết kế bằng nhựa.