Đặt vấn đề Xã hội loài người ngày một phát triển, song song với đó là đời sống con người ngày càng cải thiện, từ ăn no mặc ấm đến ăn ngon mặc đẹp. Chính vì vậy, nhu cầu thực phẩm của con người bây giờ không chỉ đòi hỏi đáp ứng đủ về số lượng mà còn cả về chất lượng. Trên thực tế, nhu cầu sử dụng thịt lợn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thịt tiêu thụ trên toàn thế giới, điều này chứng tỏ tính ưu việt của thịt lợn trong cuộc sống của con người. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra cho ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng là đầu tư phát triển đàn lợn để tăng cả chất lượng và số lượng đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu dùng.
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang phát triển khá mạnh trên thế giới nói chung và trong nước nói riêng, trong đó ngành chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng và đem lại nhiều lợi ích cho người chăn nuôi. Hàng năm, ngành chăn nuôi lợn cung cấp trên 70% sản lượng thịt cho thị trường. Thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, khả năng sử dụng thịt, mỡ lợn của con người là tương đối tốt. Không những cung cấp nguồn thực phẩm lớn cho con người, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng phân bón khá lớn cho ngành trồng trọt và cung cấp các sản phẩm phụ như: da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến.
Và trong chăn nuôi lợn, chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng, góp phần quyết định thành công của nghề chăn nuôi, đặc biệt trong việc nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh. Nhưng một quy luật tất yếu trong quá trình phát triển chăn nuôi là nảy sinh vấn đề dịch bệnh. Nguyên nhân gây bệnh là do khả năng thích nghi của lợn nái với khí hậu, điều kiện vệ sinh chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh… đã gây ra một số bệnh làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất và chất lượng con giống của toàn đàn lợn. Luan van 2 Xuất phát từ thực tế trên em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, Quảng Ninh”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu -Tìm hiểu quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng chăm sóc đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại Công ty Cổ phần khai thác khoáng sản Thiên Thuận tường Quảng Ninh. - Nắm được các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ. - Nắm được các loại thức ăn và khẩu phần thức ăn cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ của trại.
Yêu cầu - Thực hiện công đoạn cuối cùng của chương trình đạo tạo đại học, đó là thực tập tốt nghiệp, viết và bảo vệ khóa luận tốt nghiệp. - Nhằm củng cố lý thuyết và nâng cao hiểu biết về thực tế, tạo nền tảng tốt để bước đầu ra đời lập nghiệp. -Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại của công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. - Áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con nuôi tại trại.
- Quan sát, theo dõi tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con theo mẹ, thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn của trại. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất tại trại. Vị trí địa lý Trang trại chăn nuôi lợn của Công ty Thiên Thuận Tường được thành lập năm 2007, là trại lợn thuộc quyền sở hữu của gia đình giám đốc Trần Hòa.
Trại lợn được hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư con giống, thuê công nhân và kết hợp với Công ty TNHH Cargill Việt Nam và Công ty De Heus, cả công ty cử cán bộ kĩ thuật và đưa toàn bộ thức ăn về tại trại để hỗ trợ trại. Hiện nay, trang trại do giám đốc Trần Hòa làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty Cargill và De Heus chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại. Trại chăn nuôi lợn của Công ty Cổ phần (CP) khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường Quảng Ninh có địa chỉ tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Phường Cửa Ông có địa hình khá phức tạp, phía Bắc là những dải núi cao.
Độ cao trung bình 600m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều - Móng Cái. - Phía Đông giáp sông Mông Dương, huyện Vân Đồn. - Phía Tây giáp phường Cẩm Phú, xã Dương Huy, thành phố Cẩm Phả. - Phía Nam giáp biển.
- Phía Bắc giáp phường Mông Dương. Điều kiện khí hậu Thành phố Cẩm Phả, Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có một mùa Hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông lạnh khô, ít mưa và có khí hậu nóng ẩm bao trùm nhất. Do đó trại lợn Thiên Thuận Tường cũng chịu ảnh hưởng của đới khí hậu này. Luan van 4 Nhiệt độ trung bình 22,7 - 24,10C; Lượng mưa trung bình 1.5 mm ; Độ ẩm trung bình 81,3%; Số giờ nắng trong năm từ 1530 - 1776 giờ.
Gió chủ đạo là gió Đông Nam và Đông Bắc. Hàng năm có gió bão, mưa to, gió mạnh. Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa Hè (tháng 7) là 12ºC. Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển.
Nhìn chung điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho nông nghiệp phát triển cả về trồng trọt cũng như chăn nuôi. Tuy nhiên có những tháng bất lợi như mùa hè nhiệt độ, độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh. Vì vậy, công tác phòng và điều trị bệnh cho đàn vật nuôi là vô cùng quan trọng. Cơ cấu tổ chức trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: 01 chủ trại, 01 quản lý trại, 04 kỹ thuật: 02 kỹ thuật trại của công ty Cargill, 02 kỹ thuật trại của Công ty De Heus.
08 công nhân, 02 sinh viên thực tập tại trang trại, 02 thợ điện nước, thợ sửa chữa chịu trách nhiệm kiểm tra vận hành và khắc phục hư hỏng toàn bộ hệ thống điện nước và các thiết bị trại, 02 cấp dưỡng, 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ. Mỗi tổ thực hiện công việc riêng của mình một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại. Cơ sở vật chất của trại Công ty CP khai thác khoáng sản Thiên Thuận Tường Quảng Ninh có vị trí cách xa khu dân cư, có địa hình bằng phẳng và khí hậu thuận lợi cho chăn nuôi, giao thông thuận tiện.
Luan van 5 Trang trại bao gồm có nhà điều hành, kho thức ăn, kho thuốc,khu chuồng lợn đực giống, phòng sản xuất tinh, khu chuồng lợn hậu bị, khu chuồng lợn nái đẻ, khu chuồng lợn thịt, khu chuồng lợn nhập ngoại. Ngoài ra còn có các công trình phụ phục vụ công tác chăn nuôi, khu ăn uống, nghỉ ngơi cho công nhân và kỹ sư. Về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất ở trại khá đầy đủ và hoàn thiện, tuy nhiên do thời gian sử dụng thời gian dài nên một số thiết bị đã hư hỏng. Trang trại có tổng diện tích 6,5 ha bao gồm: Trước cổng có hệ thống phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại.
Có một phòng tắm sát trùng cho người ra vào trại. Trại gồm một kho dự trữ bảo quản thuốc và vắc xin để ở đầu khu vực sản xuất, Kho thức ăn và 1 phòng pha chế bảo quản tinh ở cạnh chuồng nái chửa. Khu chuồng lợn đực giống (C1): Gồm có hai dãy chuồng nuôi lợn đực giống đang khai thác và nơi để tập cho lợn đực lên giống. Phòng sản xuất tinh gồm các dụng cụ pha tinh, sổ sách theo dõi ở chuồng nái chửa, sau khi khai thác tinh, tinh sẽ được pha và bảo quản ở đây.
Khu chuồng hậu bị (C2): Gồm hai dãy chuồng để nuôi nái hậu bị. Khu chuồng bầu (C3) : gồm 2 chuồng, mỗi chuồng chia làm 2 dãy là nơi nuôi dưỡng lợn nái chờ phối, lợn mang thai. Ở đầu dãy có 3 ô rộng là nơi để kiểm tra lợn lên giống và ép lợn lên giống. Trước khi đẻ 5 - 7 ngày thì chuyển lên khu nái đẻ.
Dãy trong cùng của chuồng nái chửa là các ô chuồng dành cho lợn nái hậu bị sau khi nuôi cách ly, đủ điều kiện phối giống và nái sau khi cai sữa. Khu chuồng lợn nái đẻ (C4) : Chuồng được thiết kế theo tiêu chuẩn của Đan Mạch, bao gồm 5 chuồng, mỗi chuồng có 2 dãy, được thiết kế các ô chuồng dành riêng cho nái đẻ và nuôi con. Nái trước khi đẻ từ 5 - 7 ngày sẽ được chuyển Luan van 6 đến chuồng đẻ và sau khi lợn con cai sữa sẽ được chuyển về dãy chờ phối của khu chuồng nái chửa. Khu chuồng lợn con sau cai sữa (C5): Gồm hai dãy chuồng, mỗi dãy có 24 ô, mỗi ô có mật độ nuôi nhốt từ 25 - 28 lợn con.
Có hệ thống máng ăn, máng uống tự động. Khu chuồng lợn thịt ( C6+C7) : Mỗi khu có hai dãy chuồng, lợn con sau khi đạt số cân từ 20 - 25kg được chuyển xuống đây để nuôi đến khi xuất bán. Sử dụng hệ thống máng ăn tự động. Khu chuồng lợn nhập (C8): Là khu chuồng mới đưa vào sử dụng, nuôi nhốt chăm sóc đàn lợn nhập từ nước ngoài.
Tất cả các chuồng đều được thiết kế với hệ thống chống nóng như dàn mát ở đầu chuồng, quạt thông gió ở cuối chuồng, hệ thống bạt chống gió lùa. Riêng khu chuồng lợn nái đẻ ( C4) có thêm hệ thống hút mùi và cảm biến nhiệt độ. Trại có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa Đông được lắp tại các chuồng đẻ. Một số khu chuồng có hệ thống máng ăn tự động như C4, C5, C6, C7.
Trong khu chăn nuôi, trước các chuồng đều có các hố sát trùng. Nguồn nước thải xả gầm, rửa chuồng trại đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm. Xung quanh trại có vườn cây ăn quả, vườn rau, có hồ dự trữ nước tạo môi trường thông thoáng, trong lành.