Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng, có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi của mỗi quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm có chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp một lượng phân bón lớn cho ngành trồng trọt và các sản phẩm ngoài thịt như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến [23]. Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Phương thức chăn nuôi lợn đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực từ nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp sang quy mô trang trại, tập trung.
Nhờ đó việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn đã tạo ra các sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và có giá trị kinh tế cao hơn. Bên cạnh đó, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt, ngoài việc nuôi các giống lợn nội có chất lượng thịt thơm ngon và chịu đựng kham khổ tốt, chúng ta còn nhập nhiều giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng nhanh và tỷ lệ thịt nạc cao để lai tạo với các giống lợn nội và nuôi thuần. Do vậy, có rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm đến vài nghìn con lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước [22]. Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt.
Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng. Nếu nuôi Luan van 2 dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp. Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ. Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này.
Vì vậy, thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản là cần thiết. Xuất phát từ thực tế nêu trên, em tiến hành chuyên đề: "Theo dõi tình hình mắc hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa (M.A) ở lợn nái ngoại và biện pháp điều trị tại trang trại S2 công ty TNHH MNS Farm Nghệ An". Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu - Đánh giá được tình hình mắc hội chứng M.A trên đàn lợn nái nuôi tại trại.
- Xác định được phác đồ điều trị bệnh hiệu quả, góp phần nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại. Yêu cầu - Xác định được tỷ lệ mắc hội chứng M.A trên đàn lợn nái nuôi tại trại. - Xác định được phác đồ điều trị hội chứng M. - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái sinh sản.
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở và của khoa, nhà trường. - Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân. Luan van 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Quá trình thành lập và cơ cấu tổ chức của trang trại 2. Quá trình thành lập Trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học công ty TNHH MNS Farm Nghệ An nằm trên địa bàn xóm Côn Sơn - Hạ Sơn - Quỳ Hợp - Nghệ An. Vùng nuôi này cách xa các khu dân cư, về mặt phòng dịch bệnh thì rất tốt vì địa hình rừng núi “nội bất xuất ngoại bất nhập”. Khu này chỉ có một đường vào, hệ thống chuồng trại với quy mô đạt tiêu chuẩn GlobalGap, hoạt động theo phương thức công nghiệp, mô hình hiện đại, hiện là trại chăn nuôi với quy mô lớn nhất miền Trung.
Trại nuôi và phát triển con giống thuộc dòng cụ kỵ (GGP) và dòng ông bà (GP) thuộc các giống Yorkshire, Landrace và Duroc. Hiện nay trại thuê công nhân, công ty đầu tư thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật, trang trại do ông Kanisorn Suttikao làm giám đốc trại, ông Nguyễn Văn Trung làm trưởng trại, cán bộ kỹ thuật của trại gồm 6 tổ trưởng, nhiều kỹ sư có trình độ cao và công nhân. Cơ cấu tổ chức của trang trại Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm: + Nhóm quản lý bao gồm Anh Nguyễn Văn Trung: trưởng trại phụ trách chung và chị Nguyễn Thị Quy: Giám sát trại, 1 hành chính nhân sự, 6 tổ trưởng gồm: choai thịt, nái đẻ, sau cai sữa, mang thai, lái xe, biogas, bảo trì, 10 tổ phó của các tổ. + Nhóm kỹ thuật bao gồm: 25 kỹ thuật sản xuất, 6 kỹ thuật biogas, an toàn vệ sinh môi trường 4, 3 kế toán, quản lý kho 2, sale (bán hàng) 2, y tế 1 + Nhóm công nhân bao gồm: 116 công nhân, 19 bảo vệ, 2 tạp vụ, nấu ăn 11, 4 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn.
Luan van 4 Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng mang thai, tổ cai sữa, tổ chuồng thịt, tổ chuồng nọc và phòng pha chế tinh. Điều kiện tự nhiên của nơi thực tập - Trại chăn nuôi S2 Công ty TNHH MNS Farm Nghệ An nằm trên địa bàn xóm Côn Sơn, xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, Nghệ An. Xã Hạ Sơn được chia thành 9 xóm. Hạ Sơn được nối với quốc lộ 48 đoạn qua xã Minh Hợp bằng con đường độc đạo dài gần 18 km hay còn gọi là đường nguyên liệu.
Diện tích tự nhiên xã có 43,15 km², dân số năm 1999 là 3.106 người, mật độ dân số đạt 72 người/km². Theo thống kê năm 2015, xã có dân số là 4.100 người, mật độ dân số đạt 95 người/km². Phía bắc giáp huyện Quỳ Châu. Phía nam giáp các huyện Tân Kỳ và Anh Sơn.
Phía đông giáp huyện Nghĩa Đàn. Phía tây giáp các huyện Con Cuông và Quỳ Châu. - Hạ Sơn có khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam - khí hậu nhiệt đới gió mùa: + Lượng mưa hằng năm cao nhất đạt 2. Thấp nhất đạt 1.
Trung bình đạt 1. + Độ ẩm trung bình hằng năm đạt 82%, cao nhất 88% và thấp nhất là 67%, nhiệt độ trung bình trong năm là 210C. - Do đặc điểm thổ nhưỡng, Hạ Sơn có điều kiện phát triển lâm nghiệp và trồng các loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: chè, cao su, cà phê, mía,. cây ăn quả như: cam, vải, nhãn,.
Đồng thời, xã cũng có tiềm năng để phát triển nông nghiệp với các loại cây như ngô, khoai, sắn. Hạ Sơn có diện tích rừng lớn, chiếm 40% diện tích tự nhiên của huyện, trữ lượng gỗ cao, bình quân 150m3/ha, với nhiều loại gỗ quý như: lim, gụ, sến, lát hoa,. và nhiều loại cây đặc sản, dược liệu như quế, sa nhân, cánh kiến, nấm Luan van 5 hương,. Bên cạnh đó, Hạ Sơn còn có nhiều đồi núi với hệ thực - động vật phong phú, đa dạng.
Hạ Sơn có nhiều khoáng sản quý như: vàng, đá quý, thiếc, ăng ti moan,. Riêng quặng thiếc có hàm lượng cao. Cơ sở vật chất của nơi thực tập - Trại chăn nuôi farm S2 nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc xã Hạ Sơn, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích 110,8ha. - Trang trại dành khoảng 2,5ha để xây dựng nhà điều hành, nhà ăn cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và hoạt động của trại.
- Khu chăn nuôi được xây dựng, quy hoạch bố trí hệ thống chuồng trại cho 2 phân khu là khu nuôi lợn nái (với quy mô 5000 con) và khu nuôi lợn thịt (quy mô 40000 con) như sau: + Khu lợn nái: 4 chuồng đẻ, 8 chuồng nái mang thai, 1 chuồng lợn đực. Cùng một số công trình phụ như: phòng pha tinh, kho thức ăn, kho thuốc, bể nước, nhà vệ sinh. + Khu nuôi lợn thịt: 40 chuồng, mỗi chuồng nuôi được 900 lợn thịt và 4 chuồng lợn con cai sữa (mỗi chuồng có 4 phòng, mỗi phòng nuôi được 1000 con). Và một số công trình phụ như bể nước, kho thức ăn, kho thuốc.
Hệ thống chuồng trại của 2 phân khu là hoàn toàn khép kín, hiện đại, đạt tiêu chuẩn chăn nuôi GlobalGAP. Mỗi chuồng đều có hệ thống giàn mát phía đầu chuồng, cuối chuồng có 5 quạt thông gió đối 1 phòng nuôi lợn con cai sữa, 8 quạt thông gió đối với 1 chuồng mang thai, 8 quạt thông gió đối với 1 chuồng nuôi lợn thịt. Hai bên tường đều có cửa sổ lắp kính. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh, cửa gió trời.
Phòng tinh của trại được trang bị các dụng cụ như: kính hiển vi, nồi hấp, dụng cụ đóng liều tinh, máy đo nhiệt, tủ bảo quản tinh và một số dụng cụ khác. Trong khu chăn nuôi, có đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông. Luan van 6 Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan. Nước uống, nước xả gầm, nước vệ sinh của 2 khu lợn nái và lợn thịt được cung cấp từ 2 bể chứa riêng biệt.
Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 2. Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục Âm hộ Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với nó bởi vùng hội âm. Bên ngoài có 2 môi dính với nhau ở mép trên và mép dưới. Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong và hơi dính.
Âm vật Âm vật có cấu tạo như dương vật thu nhỏ lại và là tạng cương của đường sinh dục cái, được dính vào khớp bán động ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng. Âm vật được phủ bởi lớp nhiêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác. Tiền đình Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.