Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh ngành chăn nuôi chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tập trung quy mô trang trại nhằm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường, việc phát triển và quản trị đàn lợn nái sinh sản giữ vai trò then chốt trong việc chủ động con giống. Tuy nhiên, các giống lợn ngoại nhập nuôi tại các cơ sở chăn nuôi tập trung thường gặp nhiều khó khăn về khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của Việt Nam. Đi đôi với sự kém thích nghi là nguy cơ phát sinh các bệnh lý phức tạp tại cơ quan sinh sản (đẻ khó, sảy thai truyền nhiễm, hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa - MMA), gây tổn thất lớn về năng suất sinh sản của lợn nái và tỷ lệ sống của đàn lợn con theo mẹ. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Chăn nuôi Thú y của tác giả Nguyễn Văn Pháp (Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2021) đã đi sâu vào khảo sát, áp dụng và đánh giá việc: "Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Nguyễn Văn Hiệp xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên".
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản gồm 4 nội dung:
- Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại.
- Thực hiện quy trình chăm sóc lợn nái và lợn con.
- Nhận biết các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản và lợn con, xác định khẩu phần ăn và kỹ thuật cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai.
- Tìm hiểu các bệnh thường xảy ra đối với đàn lợn nái sinh sản và lợn con để đưa ra phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất.
Nhiệm vụ và yêu cầu của chuyên đề gồm:
- Đánh giá được thực trạng chăn nuôi lợn tại cơ sở qua các năm;
- Áp dụng đầy đủ quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái và lợn con trực tiếp tại trại;
- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh trên đàn nái và lợn con, từ đó trực tiếp thực hiện các phác đồ điều trị bệnh lâm sàng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản và đàn lợn con theo mẹ.
- Địa điểm nghiên cứu: Trang trại chăn nuôi lợn Nguyễn Văn Hiệp (còn gọi là trang trại Hiệp Thịnh), địa chỉ tại xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Cơ sở có tổng diện tích khoảng 3 ha (trong đó 2,5 ha phục vụ sản xuất), vận hành với 1 chuồng bầu (7 dãy, 74 ô/dãy), 1 chuồng cách ly (5 ô, 24 m²/ô), 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng 2 dãy, 36 ô/dãy) và chuồng nuôi lợn cai sữa.
- Thời gian thực hiện: Từ ngày 14/12/2020 đến ngày 02/06/2021 (giai đoạn thực tập nghề nghiệp 6 tháng).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về cơ sở lý thuyết, tác giả tổng hợp hệ thống kiến thức sinh lý học sinh sản và bệnh học thú y chuyên sâu trên lợn:
- Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái: Các cơ sở khoa học về sự thành thục về tính và thể vóc ở các giống lợn nội (Ỉ, Móng Cái: động dục lần đầu 4 - 5 tháng tuổi, khối lượng 20 - 25 kg) và lợn ngoại (Yorkshire, Landrace: động dục lúc 6 - 8 tháng tuổi, khối lượng 60 - 80 kg; phối giống thích hợp ở 8 - 9 tháng tuổi khi đạt 100 - 110 kg). Chu kỳ động dục kéo dài 19 - 21 ngày, thời gian chịu đực 4 - 5 ngày đối với lợn ngoại/lai và 3 - 4 ngày đối với lợn nội; xác định thời điểm phối kép thích hợp vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu có triệu chứng động dục.
- Kỹ thuật khai thác tinh dịch và thụ tinh nhân tạo: Các bước lấy tinh lợn đực nhảy giá, kỹ thuật loại bỏ dịch phân tiết ban đầu và chất keo phèn, thu nhận phần tinh đậm đặc (lượng tinh dịch bình quân khoảng 250 ml), quy chuẩn pha loãng tinh dịch với môi trường theo tỷ lệ 1:4 ở nhiệt độ ổn định 37°C.
- Cơ chế bệnh sinh của các hội chứng bệnh sản khoa: Căn bệnh và triệu chứng của bệnh viêm tử cung (thể cấp tính sốt 41 - 42°C, dịch viêm hôi thối; thể mãn tính âm ỉ rỉ dịch nhầy trắng đục), bệnh viêm vú (do vi khuẩn E. coli, Streptococcus, Klebsiella, Pseudomonas xâm nhập qua núm vú sây sát hoặc ứ đọng sữa), hội chứng MMA (viêm tử cung - viêm vú - mất sữa), hiện tượng đẻ khó và sót nhau ở nái do dinh dưỡng mất cân đối khoáng Canxi - Phốt pho, thiếu vận động hoặc can thiệp đỡ đẻ không vô trùng.
Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu:
- Phương pháp điều tra hồi cứu: Khảo sát thông tin quản lý, tra cứu sổ sách theo dõi chăn nuôi của trang trại trong giai đoạn 3 năm (2019 - 2021) để đánh giá cơ cấu đàn, quy mô phát triển và năng suất đàn lợn.
- Phương pháp thực nghiệm lâm sàng và can thiệp kỹ thuật: Trực tiếp tham gia quản lý, nuôi dưỡng, đỡ đẻ, bấm số tai, cắt đuôi, mài nanh, thiến đực và thực hiện vệ sinh sát trùng theo quy trình kỹ thuật của trại dưới sự giám sát của cán bộ kỹ thuật.
- Phương pháp chẩn đoán thú y: Theo dõi hàng ngày tại từng ô chuồng, kiểm tra thân nhiệt, trạng thái ăn uống, kiểm tra dịch sản, quan sát màu sắc phân và nhịp thở để chẩn đoán lâm sàng các bệnh trên lợn nái (viêm tử cung, đẻ khó) và lợn con (hội chứng tiêu chảy, hội chứng hô hấp), từ đó áp dụng phác đồ điều trị và đánh giá hiệu lực của thuốc.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1. Mở đầu
Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc chuyên môn hóa chăn nuôi lợn nái ngoại sinh sản tại tỉnh Thái Nguyên, chỉ ra những rủi ro do điều kiện vệ sinh kém, kỹ thuật chăm sóc không đồng bộ và bệnh lý sinh sản làm giảm sút chất lượng đàn con giống. Đặt ra 4 mục tiêu và 3 yêu cầu cụ thể cần giải quyết trong đợt công tác tại cơ sở chăn nuôi thực nghiệm.
Phần 2. Tổng quan tài liệu
Chương này chia làm hai nội dung lớn:
- Khảo sát thực địa điều kiện cơ sở thực tập: Mô tả chi tiết vị trí địa lý của trang trại Hiệp Thịnh tại xã Tân Kim, huyện Phú Bình; đặc điểm địa hình trung du, giao thông, thủy lợi hồ Kim Đĩnh, khí hậu nhiệt độ bình quân 25°C và lượng mưa 2.500 mm. Cơ cấu tổ chức gồm 1 quản lý, 1 kỹ thuật, 6 công nhân và 4 sinh viên thực tập. Cơ sở vật chất có diện tích 3 ha với các chuồng chuyên biệt: chuồng bầu, chuồng đẻ, chuồng cai sữa, chuồng cách ly, trang bị quạt hút công nghiệp, giàn mát, đèn hồng ngoại, trạm biến áp và máy phát dự phòng.
- Cơ sở lý luận: Hệ thống hóa tài liệu về sinh lý sinh dục gia súc, chu kỳ động dục, quy trình chăm sóc nái mang thai và nuôi con, kỹ thuật khai thác bảo quản tinh dịch lợn đực giống, cùng cơ chế bệnh sinh, nguyên tắc điều trị kháng sinh, hộ lý và các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh viêm đường sinh dục (Streptococcus, Colibacillus, hội chứng MMA).
Phần 3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác lập khung phương pháp thực hiện trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ tại trang trại từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2021. Quy định các tiêu chí theo dõi: cơ cấu đàn, số lượng nuôi dưỡng trực tiếp, tỷ lệ đẻ, chỉ tiêu lợn con sơ sinh, tần suất vệ sinh tiêu độc, tỷ lệ mắc bệnh và hiệu quả của các phác đồ điều trị. Đồng thời, mô tả chi tiết các quy trình kỹ thuật:
| Đối tượng lợn |
Giai đoạn chăn nuôi |
Mức khẩu phần ăn (kg/ngày) |
| Lợn nái mang thai |
Chửa kỳ 2 (85 - 111 ngày) |
1,5 - 2,0 |
|
Cận đẻ (111 - 113 ngày) |
1,0 - 1,5 |
|
Ngày đẻ |
0 - 0,5 (uống nước tự do) |
| Lợn nái nuôi con |
Ngày đầu tiên sau đẻ |
0 - 1,0 |
|
Ngày thứ 2 sau đẻ |
2,0 |
|
Ngày thứ 3 sau đẻ |
3,0 |
|
Ngày thứ 4 sau đẻ |
4,0 |
|
Ngày thứ 5 trở đi đến trước cai sữa |
5,0 (nái gầy/nuôi nhiều con tăng lên 7,0) |
|
Ngày cai sữa |
0 - 0,5 |
| Lợn con theo mẹ |
Tập ăn từ 3 ngày tuổi |
Tự do |
Quy định các thao tác kỹ thuật đỡ đẻ: vuốt nhớt, kích thích hô hấp, lau khô, thắt dây rốn cách cuống 2,5 cm, cắt ngoài nút buộc 1,5 cm, sát trùng cồn iod, úm ở nhiệt độ 28 - 33°C. Mô tả lịch trình sử dụng vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm:
| Loại lợn |
Tuần tuổi / Thời điểm tiêm |
Bệnh phòng ngừa |
Tên vắc xin / Chế phẩm |
| Lợn nái |
Mang thai tuần thứ 10 |
Bệnh Dịch tả lợn |
Coglapest |
|
Mang thai tuần thứ 12 |
Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) |
Aftopor |
| Lợn con |
2 - 3 ngày tuổi |
Bệnh thiếu sắt |
Fe – B12 – HDH |
|
2 - 3 ngày tuổi |
Bệnh cầu trùng |
Toltrazuril |
|
10 - 14 ngày tuổi |
Bệnh suyễn lợn |
MycoplasmaVac |
|
16 - 18 ngày tuổi |
Bệnh còi cọc |
Circo |
|
22 - 24 ngày tuổi |
Tiêu chảy, hô hấp |
Linco Spex |
Phần 4. Kết quả và thảo luận
Nội dung này trình bày các phát hiện qua 6 tháng thực tế:
- Đánh giá cơ cấu đàn lợn của trại từ 2019 đến 2021 và số lượng lợn tác giả trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
- Kết quả thực hiện quy trình kỹ thuật đỡ đẻ và ghi nhận các chỉ tiêu sản xuất của đàn nái từ tháng 12/2020 đến tháng 5/2021.
- Kết quả vệ sinh chuồng trại: Tiêu độc bằng Ommicide 2 lần/ngày (liều 320 ml/1000 lít nước); rắc vôi bột lối đi vào thứ Ba, thứ Năm, Chủ nhật; tháo dỡ tấm đan ngâm dung dịch NaOH 10% trong 1 ngày và tẩy rửa chuồng bằng NaOH 5%.
- Kết quả can thiệp điều trị lâm sàng:
- Bệnh viêm tử cung nái: Thụt rửa dung dịch thuốc tím 1/1000 và Penicillin (2 lần/ngày trong 2 ngày), kết hợp tiêm bắp Hitamox LA (1 ml/10 - 15 kg thể trọng/2 ngày), Oxytocin (2 ml/con), Analgin (1 ml/10 kg thể trọng), Vitamin B1 (5 ml/30 kg thể trọng) trong 3 ngày.
- Hội chứng tiêu chảy ở lợn con: Tiêm Atropin hoặc Nor 100 liều 1 ml/8 - 10 kg thể trọng liên tục 3 - 5 ngày.
- Hội chứng hô hấp ở lợn con: Tiêm Pendistrep 1 ml/10 kg thể trọng/ngày kết hợp Bromhexine 2 ml/con khi lợn ho thở dốc.
- Can thiệp sản khoa và thao tác phụ trợ: Tiêm Oxytocin liều 2 ml/con cho nái yếu sức/già từ lứa thứ 5 - 6 trở đi khi đã đẻ được 5 - 6 con; bấm tai theo số 22 và tuần sinh; mài nanh, cắt đuôi, tiêm Fe-Dextran-B12 liều 2 ml/con lúc 3 ngày tuổi; thiến lợn đực nuôi thịt vào ngày thứ 5 sau sinh có tiêm kháng sinh Amlistin 1 ml/con.
Phần 5. Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về tính khả thi, hiệu quả của các quy trình chăm sóc, vệ sinh dịch tễ và phác đồ điều trị được áp dụng tại trại; đề xuất kiến nghị đối với trang trại về cải thiện hệ thống xử lý nước thải và cân đối chi phí phòng trị bệnh.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu và can thiệp thực tế:
- Chuẩn hóa định lượng quy trình nuôi dưỡng đàn nái chửa và nái nuôi con thông qua biểu khẩu phần 9 nấc (từ 0 kg đến 5 - 7 kg/ngày), giúp kiểm soát thể trạng nái trước và sau đẻ, hạn chế nguy cơ đẻ khó do thai quá to hoặc nái quá béo.
- Thiết lập quy trình kiểm soát an toàn sinh học tại chỗ: Duy trì phun khử trùng Ommicide 2 lần/ngày (sáng trong chuồng, chiều trong và xung quanh chuồng với nồng độ 320 ml/1000 lít nước), ngâm tẩy tấm đan sàn chuồng đẻ bằng xút NaOH 10% trong 24 giờ và xử lý nền chuồng bằng xút 5%, kết hợp rắc vôi 3 lần/tuần.
- Thực hiện lịch trình tiêm phòng chủ động cho đàn nái (Coglapest tuần 10, Aftopor tuần 12 mang thai) và đàn lợn con (chống thiếu sắt và cầu trùng lúc 2 - 3 ngày tuổi, phòng suyễn lúc 10 - 14 ngày, Circo lúc 16 - 18 ngày, Linco Spex lúc 22 - 24 ngày tuổi).
- Xây dựng và kiểm chứng phác đồ điều trị hiệu quả tại trại đối với bệnh viêm tử cung cấp ở lợn nái (kết hợp sát trùng tử cung bằng thuốc tím 1/1000, Penicillin thụt rửa, Hitamox LA và thuốc hỗ trợ co bóp Oxytocin) và kiểm soát tiêu chảy lợn con bằng Atropin/Nor 100.
Đóng góp thực tiễn của khóa luận:
- Báo cáo cung cấp dữ liệu thực tế về quy trình vận hành chuồng trại khép kín tại một cơ sở chăn nuôi tư nhân chuyển đổi mô hình (từ gia công cho công ty Dabaco sang doanh nghiệp nhỏ), phản ánh chân thực các khó khăn kỹ thuật và giải pháp xử lý lâm sàng tại địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Tác giả tự trực tiếp thực hiện các thao tác kỹ thuật thú y cơ bản (đỡ đẻ, cắt cuống rốn 2,5 cm, bấm thẻ tai mã 22, mài nanh, cắt đuôi, thiến dịch hoàn lợn đực ở ngày thứ 5 có tiêm Amlistin), hoàn thiện sổ tay thực hành thực tế cho kỹ thuật viên tại cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế do đặc thù điều kiện thực tế ghi nhận trong văn bản:
- Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong quy mô một trang trại duy nhất (trang trại Nguyễn Văn Hiệp) trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 12/2020 đến tháng 6/2021), chưa theo dõi được chu kỳ sinh sản khép kín qua nhiều lứa đẻ liên tiếp của toàn bộ đàn nái.
- Trang trại đang trong quá trình hoàn thiện hạ tầng nên quy mô chuồng nuôi và trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế; cơ sở gặp khó khăn lớn về nguồn vốn đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi, dễ gây áp lực ô nhiễm môi trường cục bộ.
- Biến động dịch bệnh trên địa bàn diễn biến phức tạp và giá thức ăn chăn nuôi biến động liên tục làm tăng chi phí thú y, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chung của trại.
Hướng phát triển tiếp theo được gợi mở từ thực địa:
- Tiếp tục theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu năng suất sinh sản trên đàn nái qua nhiều năm để xác định chu kỳ loại thải nái tối ưu.
- Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp công nghệ sinh học xử lý nước thải và chất thải rắn chăn nuôi phù hợp với điều kiện kinh tế của trang trại quy mô vừa.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo ứng dụng rõ rệt cho:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi Thú y đang chuẩn bị đi thực tập tốt nghiệp hoặc làm khóa luận về quản lý đàn lợn sinh sản.
- Cán bộ kỹ thuật, chủ trang trại chăn nuôi lợn quy mô vừa và nhỏ: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về bảng khẩu phần thức ăn cho nái chửa/nuôi con, định lượng lịch vắc xin cho lợn con từ 2 đến 24 ngày tuổi, và quy trình xử lý sát trùng chuồng đẻ bằng hóa chất tiêu độc (NaOH, Ommicide).
- Các nội dung có giá trị tham khảo kỹ thuật cao nhất gồm: Quy trình đỡ đẻ và chăm sóc sơ sinh trong lồng úm (28 - 33°C), kỹ thuật can thiệp lợn nái đẻ khó bằng tay và chỉ định dùng thuốc co bóp tử cung Oxytocin.
Câu hỏi thường gặp
1. Khẩu phần ăn của lợn nái được điều chỉnh như thế nào trong thời gian cận đẻ và ngày đẻ?
Theo quy trình kỹ thuật tại trại (Bảng 3 của khóa luận), lợn nái mang thai giai đoạn 111 - 113 ngày được giảm tiêu chuẩn thức ăn xuống 1,0 - 1,5 kg/ngày (hoặc giảm 0,5 kg/con/bữa trước ngày đẻ 5 ngày). Vào ngày lợn cắn ổ đẻ, chỉ cho ăn rất ít từ 0 - 0,5 kg cám hoặc không cho ăn thức ăn tinh, nhưng bắt buộc phải cho uống nước tự do. Sau khi đẻ, lượng cám được tăng từ từ (ngày đầu 0 - 1 kg, ngày thứ hai 2 kg, tăng dần 0,5 kg mỗi bữa) để tránh gây rối loạn tiêu hóa và viêm vú.
2. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn nái mang thai tại cơ sở gồm những loại nào?
Theo bảng lịch vắc xin của trại, lợn nái mang thai được tiêm phòng hai bệnh truyền nhiễm chính: Vắc xin Coglapest phòng bệnh Dịch tả lợn vào tuần mang thai thứ 10, và vắc xin Aftopor phòng bệnh Lở mồm long móng (LMLM) vào tuần mang thai thứ 12.
3. Quy trình sát trùng ô chuồng đẻ và các tấm đan sàn sau khi chuyển lợn được thực hiện bằng hóa chất gì?
Sau khi cai sữa và chuyển lợn sang chuồng chửa hoặc xuất bán, các tấm đan sàn chuồng được tháo dỡ hoàn toàn và ngâm trong bể sát trùng chứa dung dịch xút NaOH nồng độ 10% trong thời gian 1 ngày, sau đó cọ sạch và phơi khô. Khung ô chuồng đẻ và gầm chuồng được cọ rửa bằng dung dịch NaOH pha loãng nồng độ 5%, sau đó để khô trước khi lắp lại tấm đan và đưa lợn chờ đẻ vào.
4. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung cấp tính trên đàn lợn nái tại trang trại gồm các bước nào?
Phác đồ can thiệp gồm thụt rửa tử cung 2 lần/ngày trong 2 ngày liên tục bằng thuốc tím 1/1000 pha loãng kết hợp dung dịch Penicillin. Đồng thời tiêm bắp các loại thuốc: Kháng sinh Hitamox LA (liều 1 ml/10 - 15 kg thể trọng, tiêm cách nhật 2 ngày), Oxytocin (2 ml/con để kích thích tống dịch viêm), kết hợp thuốc giảm đau hạ sốt Analgin (1 ml/10 kg thể trọng) và thuốc trợ sức Vitamin B1 (5 ml/30 kg thể trọng), duy trì liệu trình trong 3 ngày.
5. Lợn con nuôi thịt tại trại được thiến dịch hoàn vào thời điểm nào và quy trình thực hiện ra sao?
Trang trại thực hiện thiến lợn đực nuôi thịt vào ngày thứ 5 sau khi sinh. Trước khi thao tác, lợn con được tiêm 1 ml kháng sinh Amlistin để phòng nhiễm trùng. Kỹ thuật viên kẹp lợn giữa hai đùi (đầu hướng xuống), nặn nổi rõ dịch hoàn, dùng dao mổ rạch hai vết đứt chính giữa mỗi bên dịch hoàn, nặn bật dịch hoàn ra ngoài, dùng panh kẹp cuống thừng dịch hoàn rồi giật đứt, sau đó dùng khăn sạch lau và bôi cồn sát trùng vào vết mổ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Pháp là công trình tổng kết thực nghiệm lâm sàng có tính ứng dụng cao, phản ánh chi tiết việc thực thi các quy trình chăn nuôi thú y trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại một trang trại tư nhân ở tỉnh Thái Nguyên. Nghiên cứu đã số liệu hóa cụ thể định mức dinh dưỡng, lịch trình sử dụng vắc xin phòng bệnh, kỹ thuật can thiệp đỡ đẻ và các phác đồ điều trị kháng sinh đối với các bệnh lý sản khoa thường gặp như viêm tử cung và tiêu chảy sơ sinh. Đây là nguồn tài liệu tham khảo thực địa hữu ích, cung cấp các hướng dẫn thao tác cụ thể cho sinh viên ngành Chăn nuôi Thú y cũng như người trực tiếp quản lý kỹ thuật tại các cơ sở chăn nuôi gia súc sinh sản hiện nay.