Luận văn thạc sĩ cấu trúc vốn mục tiêu tại các công ty cổ phần việt nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới

Khám phá cấu trúc vốn mục tiêu tại các công ty cổ phần Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu. Phân tích và đánh giá chi tiết.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

233
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

TÓM TẮT LUẬN ÁN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. Bối cảnh nghiên cứu trong nước và quốc tế

1.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học

1.4. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.5. Mục tiêu nghiên cứu

1.6. Câu hỏi nghiên cứu

1.7. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.8. Đối tượng nghiên cứu

1.9. Phạm vi nghiên cứu

1.10. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.11. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

1.12. Về mặt lý luận

1.13. Về mặt thực tiễn

1.14. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ

2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ

2.2. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn mục tiêu

2.3. Khái niệm cấu trúc vốn

2.4. Cấu trúc vốn mục tiêu

2.5. Hệ thống các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn

2.6. Các lý thuyết và quan điểm khoa học về cấu trúc vốn, cấu trúc vốn mục tiêu

2.7. Cơ sở lý luận về chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế

2.8. Khái niệm chu kỳ kinh tế và suy thoái kinh tế

2.9. Các lý thuyết về chu kỳ kinh tế

2.10. Mối quan hệ giữa suy thoái kinh tế và cấu trúc vốn mục tiêu

2.11. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN

2.12. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của suy thoái kinh tế đến việc lựa chọn cấu trúc vốn

2.13. Các nghiên cứu thực nghiệm về xác định cấu trúc vốn mục tiêu

2.14. Thảo luận các nghiên cứu trước

2.15. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.2. MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

3.3. Mô hình và phương pháp nghiên cứu

3.4. Mô hình nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.6. Giả thuyết nghiên cứu

3.7. MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

3.8. Mô hình nghiên cứu

3.9. Phương pháp xác định cấu trúc vốn mục tiêu

3.10. MÔ TẢ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.11. Mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.12. Thống kê mô tả và các kiểm định cơ bản

3.13. Thống kê mô tả

3.14. Kết quả kiểm định tính dừng

3.15. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến

3.16. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN VÀ KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

4.1. THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

4.2. Suy thoái kinh tế thế giới

4.3. Thực trạng cấu trúc vốn và các chỉ tiêu tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế

4.4. Thực trạng cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế

4.5. Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các chỉ số tài chính có liên hệ với cấu trúc vốn

4.6. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

4.7. Xác định độ trễ tối ưu

4.8. Kiểm định tính ổn định trong mô hình

4.9. Kết quả ước lượng Mô hình 1a, 1b và 1c

4.10. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

4.11. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

5.1. KẾT LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI

5.2. Mối quan hệ giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh mối quan hệ này với thời kỳ phục hồi

5.3. Tác động của các biến kinh tế vi mô đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và so sánh với thời kỳ phục hồi

5.4. So sánh việc lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi

5.5. Xác định cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái và thời kỳ phục hồi

5.6. MỘT SỐ GỢI Ý ĐỂ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẠT ĐƯỢC CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU TRONG THỜI KỲ SUY THOÁI KINH TẾ

5.7. Đối với doanh nghiệp

5.8. Thay đổi nhận thức của nhà quản trị, thành lập bộ phận chuyên trách và ứng dụng phân tích định lượng xây dựng cấu trúc vốn mục tiêu phù hợp với doanh nghiệp

5.9. Thiết lập cấu trúc vốn theo ngưỡng mục tiêu phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp và từng thời kỳ của cục diện kinh tế

5.10. Một số gợi ý trong việc lựa chọn cấu trúc vốn để đạt mức mục tiêu cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế

5.11. Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

5.12. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

5.13. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: HỆ THỐNG CÁC LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN, CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÓ LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 2: TÁC ĐỘNG CỦA SUY THOÁI KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VÀ CÁC BIẾN KINH TẾ VĨ MÔ CỦA VIỆT NAM

PHỤ LỤC 3: DANH MỤC CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN TRONG MẪU NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 4: THỐNG KÊ MÔ TẢ VÀ KẾT QUẢ MỘT SỐ KIỂM ĐỊNH CƠ BẢN

PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ KIỂM ĐỊNH CỦA MÔ HÌNH 1A, 1B VÀ 1C

PHỤ LỤC 6: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH 2A, 2B VÀ 2C

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Cấu Trúc Vốn Mục Tiêu và Tác Động của Suy Thoái Kinh Tế

Cấu trúc vốn mục tiêu tại các công ty cổ phần Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế là một vấn đề quan trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, trong bối cảnh suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp phải điều chỉnh cấu trúc vốn để duy trì khả năng thanh khoản và cạnh tranh. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn từ quý 1/2007 đến quý 4/2010, tỷ lệ cấu trúc vốn mục tiêu của các doanh nghiệp niêm yết là 54,39%. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tối ưu hóa nguồn vốn nhằm giảm thiểu rủi ro tài chính. Các yếu tố như quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và khả năng thanh toán có tác động lớn đến việc lựa chọn cấu trúc vốn. Doanh nghiệp cần kiểm soát các yếu tố này để đạt được cấu trúc vốn mục tiêu trong thời kỳ khó khăn.

1.1. Tác Động của Suy Thoái Kinh Tế đến Cấu Trúc Vốn

Suy thoái kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp. Trong thời kỳ này, các doanh nghiệp thường phải đối mặt với áp lực tài chính lớn, dẫn đến việc điều chỉnh cấu trúc vốn để đảm bảo khả năng thanh khoản. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong thời kỳ suy thoái, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tăng lên, cho thấy doanh nghiệp phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn vay. Điều này có thể dẫn đến rủi ro tài chính cao hơn, đặc biệt khi lãi suất tăng. Do đó, việc quản lý cấu trúc vốn một cách hiệu quả là rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro và duy trì hoạt động kinh doanh bền vững.

1.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng đến Cấu Trúc Vốn

Các yếu tố vi mô và vĩ mô đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Trong thời kỳ suy thoái, các yếu tố như tình hình kinh tế, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có thể tác động đến quyết định tài chính của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng, trong thời kỳ phục hồi, mối quan hệ giữa các yếu tố này và cấu trúc vốn trở nên phức tạp hơn. Doanh nghiệp cần phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố này để đưa ra quyết định tài chính hợp lý, nhằm đạt được cấu trúc vốn mục tiêu và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động.

II. Phân Tích Thực Trạng Cấu Trúc Vốn Tại Các Doanh Nghiệp Việt Nam

Thực trạng cấu trúc vốn tại các công ty cổ phần Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc huy động vốn do lãi suất cao và chính sách tín dụng thắt chặt. Theo số liệu, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp tăng lên đáng kể, cho thấy sự phụ thuộc vào nguồn vốn vay. Điều này không chỉ làm tăng rủi ro tài chính mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc phân tích các chỉ số tài chính liên quan đến cấu trúc vốn là cần thiết để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

2.1. Tình Hình Tài Chính của Doanh Nghiệp

Tình hình tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế cho thấy sự bất ổn định. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc duy trì dòng tiền và khả năng thanh toán. Các chỉ số tài chính như tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ nợ và tỷ suất sinh lời đều có xu hướng giảm. Điều này cho thấy rằng, các doanh nghiệp cần phải cải thiện quản lý tài chính và tối ưu hóa cấu trúc vốn để đảm bảo hoạt động bền vững trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

2.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện Cấu Trúc Vốn

Để cải thiện cấu trúc vốn, các doanh nghiệp cần thực hiện một số giải pháp như tăng cường quản lý tài chính, tối ưu hóa nguồn vốn và cải thiện khả năng thanh khoản. Việc xây dựng một kế hoạch tài chính rõ ràng và linh hoạt sẽ giúp doanh nghiệp ứng phó tốt hơn với các biến động của thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần xem xét việc huy động vốn từ các nguồn khác nhau, bao gồm cả vốn vay và vốn chủ sở hữu, để đạt được cấu trúc vốn mục tiêu trong thời kỳ phục hồi.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu một pha mới của chu kỳ kinh tế - pha phục hồi. Hầu hết kinh tế tại các khu vực đều phục hồi, Mỹ tăng trưởng 2,53%, các nước phát triển OECD đạt 2,93%, các nước châu Âu phục hồi chậm, đạt 2,08%. Một số nước khu vực châu Á đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, tương đương 7,27% cao hơn so với năm 2006 (IMF, 2010). Suy thoái kinh tế thế giới gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, khiến quá trình phục hồi kinh tế thiếu bền z 2 vững.

Cụ thể, năm 2010, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi nhưng vẫn ẩn chứa những rủi ro và bộc lộ các dấu hiệu kìm hãm đà hồi phục như tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, nguy cơ vỡ nợ công ở châu Âu, tăng trưởng kinh tế nhiều nước đang phát triển chưa khôi phục mức trung bình của thời kỳ trước suy thoái, sự thiếu hợp tác giữa các nền kinh tế tăng lên hình thành nguy cơ xung đột thương mại, nguy cơ lạm phát tăng (đặc biệt tại các nước đang phát triển), sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) làm suy giảm niềm tin vào chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, suy thoái kinh tế cũng như chu kỳ kinh tế xảy ra theo định kỳ. Đó là quy luật không thể tránh khỏi của nền kinh tế thị trường. Do đó, các doanh nghiệp và quốc gia chủ động thực hiện các chính sách kinh tế để hạn chế những tổn thất do chu kỳ kinh tế gây ra.

Sau khi nền kinh tế vượt qua pha suy thoái và bước sang pha phục hồi, để khắc phục những hậu quả này, các quốc gia trong đó có doanh nghiệp thường thực hiện tái cấu trúc kinh tế và bên cạnh đó, việc điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu là điều tất yếu (Nguyễn Ngọc Thạch và Lý Hoàng Ánh, 2014). Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển quy mô nhỏ, tham gia ngày càng sâu và rộng vào hệ thống kinh tế thế giới. Vì vậy, suy thoái kinh tế thế giới kéo dài đã gây những khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chậm lại.

Trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2007-quý 4/2010), tăng trưởng kinh tế Việt Nam bình quân đạt 6,12%/năm, thấp hơn so với thời kỳ trước suy thoái kinh tế thế giới (quý 1/2000-quý 4/2005) với tốc độ bình quân đạt 6,88%/ năm. Đặc biệt, từ quý 1/2008, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã bắt đầu giảm, chỉ đạt 7,52%, tiếp tục giảm ở các quý tiếp theo và chạm đáy của sự suy giảm tại quý 1/2009 với mức thấp nhất là 3,12%. Vốn đầu tư nước ngoài (FDI) giảm từ 9,58 tỷ USD vào năm 2008 xuống còn 7,6 tỷ USD vào năm 2009, tương ứng với mức giảm 20,67%. Tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trở nên nghiêm trọng, nhất là trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới với mức nhập siêu trung bình đạt 14,4 tỷ USD.

Chỉ xét riêng năm 2008, thâm hụt cán cân thương mại là 18,03 tỷ USD, cao nhất trong 10 năm gần đây. Lạm phát tăng liên tục đến mức kỷ lục trong vòng 10 năm qua, đạt đỉnh 27,73% z 3 vào quý 3/2008, rủi ro tài chính tăng cao (IMF, 2007-2010). Sau thời gian tăng trưởng nóng (2006-2007), TTCK Việt Nam đã bắt đầu sụt giảm và có những biến động khó lường, chỉ số VNINDEX của TTCK Việt Nam đã chạm đáy ở mốc 234,66 điểm vào ngày 24/02/2009 (CTCP Chứng Khoán Sài Gòn, 2006-2007). Suy thoái kinh tế thế giới kéo dài gây bất ổn cho môi trường kinh tế vĩ mô - thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, dòng vốn đầu tư quốc tế và nhu cầu tiêu dùng của các nước giảm mạnh, tăng trưởng kinh tế chậm, TTTC suy giảm, lạm phát tăng cao.

Vì vậy, trong thời kỳ này NHNN đã thực hiện CSTT thắt chặt thận trọng (NHNN Việt Nam bắt đầu điều chỉnh tăng các loại lãi suất chỉ đạo, lãi suất huy động và cho vay tăng cao - cao nhất đạt 20,10% vào quý 3/2008). Bên cạnh đó, lãi suất cho vay tăng làm tăng chi phí hoạt động của doanh nghiệp, trong khi các TCTD hạn chế cấp tín dụng nên doanh nghiệp càng khó khăn trong huy động nguồn vốn này, dẫn đến tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước trì trệ.000 doanh nghiệp giải thể, tạm ngừng hoạt động và tình trạng này kéo dài trong những năm tiếp theo, ngay cả khi nền kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi. Từ năm 2011 đến năm 2015, trung bình mỗi năm có khoảng 63.520 doanh nghiệp giải thể và tạm ngừng hoạt động, tương ứng với tốc độ tăng bình quân 76,65% (VCCI, 2011-2015). Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô kinh doanh, vốn đầu tư thấp, cơ cấu tài chính chưa phù hợp, hiệu quả đầu tư chưa cao, khả năng thanh toán và cạnh tranh thấp.

Đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế thế giới, NHNN thực hiện CSTT thắt chặt – điều chỉnh tăng lãi suất chỉ đạo, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 1%, nâng hệ số rủi ro đối với cho vay BĐS và cho vay đầu tư chứng khoán lên 250%. Vì vậy, các tổ chức tín dụng (TCTD) hạn chế cấp tín dụng, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn tín dụng, chi phí tài chính tăng cao. Trong khi đó, khả năng sinh lời của doanh nghiệp giảm, tình trạng mất khả năng thanh toán và mất cân đối tài chính càng nghiêm trọng. Doanh nghiệp dễ dẫn đến việc phá sản, giải thể khi không thể cạnh tranh được trên thị trường trong nước và quốc tế trong điều kiện khó khăn (VCCI, 2014).

Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào nguyên nhân này, cụ thể là liên quan đến z 4 việc xác định ngưỡng CTV mục tiêu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn CTV của các doanh nghiệp Việt Nam khi nền kinh tế thế giới ở pha suy thoái và so sánh với pha phục hồi. Từ đó, luận án gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh việc lựa chọn CTV của mình nhằm đạt được ngưỡng CTV mục tiêu, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp. Theo số liệu từ báo cáo tài chính (BCTC) của 82 CTCP niêm yết trên hai Sàn Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX, mặc dù vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này tăng dần từ quý 1/2007 đến quý 2/2016, với tốc độ tăng bình quân là 3,48%, nhưng việc tăng quy mô này chủ yếu do sự gia tăng nợ phải trả - chiếm 51,07% tổng nguồn vốn (TNV), trong đó nợ ngắn hạn (NNH) chiếm 62,40% nợ phải trả và tiềm ẩn rủi ro cao. Mặc dù trong ngắn hạn, khả năng thanh toán của các doanh nghiệp này được đảm bảo, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh toán - chỉ số thanh toán ngắn hạn giảm với tốc độ giảm bình quân 5,30% và có khoảng 23,17% số doanh nghiệp nghiên cứu rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính kéo dài.

Tình trạng này trở nên thực sự nghiêm trọng trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, khi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khó khăn, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân hàng năm thời kỳ này giảm mạnh với mức 1,88%. Theo đó, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (VCSH) cũng có xu hướng giảm qua các năm với tốc độ giảm bình quân là 0,87%. Hệ quả là hàng loạt doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với nợ đến hạn. Theo số liệu thống kê của NHNN, tỷ lệ nợ xấu trung bình của toàn hệ thống ngân hàng giai đoạn này chiếm 2,77% dư nợ với tốc độ tăng bình quân là 26,55%.

Bên cạnh đó, thông qua cơ chế lan truyền thông tin của Lý thuyết Keynes và Lý thuyết bầy đàn (Banerjee, 1992; Chari và Kehoe, 2004), trước những khó khăn của doanh nghiệp, các TCTD cơ cấu lại dư nợ và thu hẹp quy mô tín dụng, thêm vào đó TTCK, TTTP trong nước cũng bị thu hẹp nên khả năng tiếp cận các nguồn vốn của doanh nghiệp trở nên càng khó khăn. Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế bất lợi như vậy, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có kế hoạch cụ thể và dài hạn về nguồn vốn mà việc lựa chọn z 5 CTV chủ yếu theo quan điểm chủ quan, chưa thực sự dựa trên các lý thuyết CTV hiện đại, gắn với các thời kỳ kinh tế cụ thể. Nhận định này được chứng minh bằng các số liệu sau đây. Khi nền kinh tế thế giới trong thời kỳ suy thoái, có hơn 51,22% doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu, do đó, chưa phát huy được vai trò của đòn cân nợ, nhưng ngược lại làm giảm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Mặc dù, khi nền kinh tế thế giới phục hồi, tình hình tài chính của doanh nghiệp bắt đầu cải thiện, tuy nhiên số lượng doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng nợ mục tiêu vẫn ở mức cao 39,02%. Mặt khác, trong toàn bộ thời kỳ (quý 1/2007-quý 2/2016), các yếu tố kinh tế vĩ mô chỉ giải thích 16,4% việc lựa chọn CTV của doanh nghiệp, kéo mức đóng góp này thấp xuống trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi (4%). Trong khi đó, trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, tỷ lệ đóng góp này đạt 35%. Điều này chứng tỏ, trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới, các nhà quản trị tài chính trở nên nhạy cảm hơn với các diễn biến kinh tế vĩ mô trong việc lựa chọn nguồn vốn, nhưng trong thời kỳ kinh tế thế giới phục hồi, trước triển vọng tăng trưởng, những biến động kinh tế vĩ mô bị các nhà quản trị doanh nghiệp xem nhẹ.

Đây có thể là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam bị mất khả năng thanh toán không chỉ trong thời kỳ suy thoái mà ngay cả khi nền kinh tế thế giới phục hồi. Nhiều doanh nghiệp quá khó khăn buộc phải giải thể, ngừng hoạt động trong những năm này đã chứng minh điều đó. Như vậy, trong thời kỳ suy thoái cũng như kinh tế phục hồi, các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam chưa xây dựng được CTV mục tiêu phù hợp với những điều kiện kinh tế thay đổi để nâng cao hiệu quả hoạt động và gia tăng giá trị công ty. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học Trong những thập kỷ qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về CTV được công bố.

Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào một số vấn đề quan trọng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Cấu Trúc Vốn Mục Tiêu Của Các Công Ty Cổ Phần Việt Nam Trong Thời Kỳ Suy Thoái Kinh Tế Thế Giới" của tác giả Trần Thị Kim Oanh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Thạch, tập trung vào việc phân tích cấu trúc vốn của các công ty cổ phần tại Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về cách thức tối ưu hóa cấu trúc vốn mà còn cung cấp những kiến thức quý báu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tài chính trong thời kỳ khó khăn. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích để áp dụng vào thực tiễn quản lý tài chính của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài chính và cấu trúc vốn, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thanh khoản ảnh hưởng đến quyết định tài chính. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh trong bối cảnh hiện tại. Những tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực tài chính và ngân hàng.