Chương 1: Giới thiệu đề tài. Xác định được nhiệm vụ và mục tiêu của đề tài để có hướng nghiên cứu về sau. Chương 2: Nghiên cứu lý thuyết về ngôn ngữ tiếng Việt Chương 3: Nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt Chương 4: Lựa chọn phương pháp nghiên cứu và xây dựng phần mềm phục vụ nghiên cứu. Chương 5: Phân tích các đặc trưng về sự biến đổi cao độ của âm tiết trong ngữ đoạn.
Chương 6: Phân tích các đặc trưng về trường độ. Chương 7: Kết luận và hướng phát triển tiếp theo. 1 0 §ång cÊu ©m trong tiÕng ViÖt Chương II Cơ sở lý thuyết ngữ âm tiếng Việt Trước khi đi vào nghiên cứu tìm hiểu cấu trúc tiếng Việt dựa trên cơ sở đồng cấu âm, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu những kiến thức về ngữ âm tiếng Việt, những kiến thức cơ bản về đồng cấu âm. Ngữ âm học và âm vị học 1.
Cơ sở âm học Âm thanh ngôn ngữ cũng như mọi âm thanh khác trong cuộc sống, chúng đều có chung một cơ sở vật chất, đó là cơ sở vật lí. Những âm thanh nói chung được tạo thành nhờ sự chấn động của các phân tử không khí, các vật thể đàn hồi, chúng phụ thuộc vào các yếu tố như: vật thể chấn động, môi trường truyền âm, lực tác động. Âm thanh ngôn ngữ được tạo thành do sự rung động của dây thanh và sự hoạt động của các khí quan khác trong bộ máy phát âm. Khác với các âm thanh tự nhiên, âm thanh ngôn ngữ phải là các âm thanh đi qua bộ máy phát âm của con người và có mang nội dung thông báo.
Chính vì vậy, âm thanh ngôn ngữ có những đặc trưng riêng biệt về: Ðộ cao Ðộ mạnh Ðộ dài Âm sắc 1. Cơ sở sinh lí học 1 1 §ång cÊu ©m trong tiÕng ViÖt Bộ máy phát âm tức là toàn bộ những cơ cấu sinh lí có liên quan đến âm thanh ngôn ngữ như: môi, răng, lưỡi, khoang miệng, khoang mũi,. Ðịnh nghĩa Là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất không mang chức năng phân biệt nghĩa và nhận diện từ. Là đơn vị âm thanh nhỏ nhất của lời nói có thể tách ra về mặt cấu âm thính giác, đồng chất trong một khoảng thời gian nhất định và thường tương ứng với mỗi một âm vị.
Liên quan đến mặt tự nhiên của ngữ âm (bao gồm cơ sở âm học và sinh lí). Phụ thuộc vào các yếu tố như: ngữ điệu, hoàn cảnh phát âm khi chúng kết hợp với các yếu tố khác trong cùng một âm tiết, bộ máy phát âm của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, khi nói về số lượng của âm tố người ta không thể đếm được, chúng có vô vàn trong cuộc sống và chúng không phải là các yếu tố chuẩn. Kí hiệu của âm tố là chúng được phiên âm giữa hai gạch vuông [ ].
Ngoài chúng còn có một số các yếu tố phụ như: môi hóa, ngắn, dài. Các loại âm tố 2. Phân loại âm tố về mặt cấu âm 2.1 Âm tố nguyên âm Các nguyên âm không thể phân loại theo tiêu chuẩn như của phụ âm. Về mặt phương thức cấu âm, nguyên âm chỉ thuộc vào một phương thức đó là luồng hơi ra tự do.
Nguyên âm không có vị trí cấu âm vì các khí quan không tạo thành khe, cũng không tạo thành chỗ tắc. Các nguyên âm cũng không thể phân loại theo tiếng thanh, vì bình thường, bất cứ nguyên âm nào cũng có tiếng thanh. Các nguyên âm chỉ khác nhau ở các hoạt động của các khí quan phát âm, trong đó quan trọng nhất là lưỡi. Vì sự thay đổi vị trí của lưỡi gây ra sự khác nhau rất lớn giữa các nguyên âm.
Lưỡi chuyển động tới - lui và lên - xuống trong khoang miệng tạo nên những tương quan phức tạp giữa các khoang cộng minh (khoang miệng và mũi), làm thay đổi hình dáng và thể 1 2 §ång cÊu ©m trong tiÕng ViÖt tích của chúng. Môi tròn lại và đưa về trước, làm kéo dài lối thoát của luồng không khí, hoặc môi chành ra, làm luồng khí phía trước ngắn lại. Người ta thường phân loại nguyên âm theo vị trí của lưỡi, độ nâng của lưỡi và hình dáng của môi. Phân loại theo vị trí của lưỡi Dòng trước (khi lưỡi dồn về trước) [i], [e], [ê] Dòng sau (khi lưỡi dồn về sau) [u], [o], [ô], [â] Dòng giữa (khi lưỡi ở giữa miệng nâng lên) [ư], [ơ], [a] Theo độ nâng của lưỡi (tương ứng với độ mở của miệng) Hẹp [i], [u],.
Theo hình dáng môi Tròn môi [u], [ô], [â], [o] Không tròn môi [i],[ê] [e],[ư],[ơ], [a] 2.2 Âm tố phụ âm Trước tiên, theo mối quan hệ giữa tiếng thanh và tiếng ồn trong cấu tạo của phụ âm, các phụ âm được chia thành các phụ âm vang (tiếng thanh nhiều hơn tiếng ồn) và các phụ âm ồn. Trong các phụ âm ồn lại chia ra các phụ âm hữu thanh (phát âm có sự tham gia của tiếng thanh, do dây thanh rung động) và phụ âm vô thanh (phát âm không có sự tham gia của tiếng thanh). Nhóm các phụ âm vang có thể được coi là một nhóm trung gian giữa các nguyên âm và các phụ âm ồn. Khi phát âm các phụ âm vang, chướng ngại được tạo thành nhưng có thể là chỗ tắc yếu (như ở phụ âm [r] tiếng Nga hay [R] tiếng Pháp hay [l] tiếng Việt) hoặc không khí không những trực tiếp vượt qua chỗ có chướng ngại mà còn đi ra tự do qua mũi (như ở các phụ âm [m], [n] trong tiếng Việt).
Sự phân chia thứ hai của các phụ âm là phân chia theo phương thức cấu tạo tiếng ồn, tức theo tính chất của chướng ngại, đó là các phụ âm tắc, xát và rung. 1 3 §ång cÊu ©m trong tiÕng ViÖt Phụ âm tắc được tạo thành khi hai khí quan tiếp xúc nhau, tạo thành chỗ tắc, cản trở hoàn toàn lối ra của luồng không khí. Phụ âm xát được tạo thành khi hai khí quan nhích lại gần nhau, làm cho lối ra của luồng không khí bị thu hẹp, luồng không khí đi qua khe hẹp này cọ xát vào thành của bộ máy phát âm. Phụ âm rung được tạo thành khi các khí quan dễ rung động (như đầu lưỡi, môi) nhích lại gần nhau tạo thành một khe hở rất hẹp hay một chỗ tắc yếu, luồng không khí đi ra mạnh làm cho các khí quan ấy rung lên (Ví dụ [r] trong tiếng Nga hay [R] trong tiếng Pháp).
Trong cách cấu âm của phụ âm, người ta thường phân biệt ba giai đoạn: Giai đoạn tiến: khí quan phát âm chuyển đến vị trí cấu âm. Giai đoạn giữ: khí quan phát âm ở vị trí cấu âm. Giai đoạn lùi: khí quan phát âm rời khỏi vị trí cấu âm. Hai giai đoạn đầu giống nhau ở bất cứ âm tắc nào.
Về giai đoạn thứ ba, cần phân biệt các tiểu loại âm tắc: âm nổ, âm mũi, âm tắc-xát và âm khép. Sự phân chia thứ ba của phụ âm là sự phân chia theo vị trí cấu tạo ra tiếng ồn hay theo khí quan chủ động khi cấu âm. Theo vị trí cấu tạo tiếng ồn, các phụ âm thường được chia ra thành các loạt chính như: phụ âm môi, răng, lợi, ngạc mạc, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu. Theo khí quan chủ động, các phụ âm được chia thành các loạt: phụ âm môi, lưỡi trước, lưỡi giữa, lưỡi sau, lưỡi con, yết hầu, thanh hầu.
Trong các nhóm này, có một số cần chia nhỏ ra nữa. Thí dụ trong các âm môi, người ta phân biệt các âm hai môi, thường gọi là âm môi- môi (ví dụ: [p], [b], [m]) với các âm một môi, thường gọi là âm môi- răng (ví dụ:. Các âm lưỡi trước thường chia thành nhiều nhóm nhỏ nhưng đáng chú ý là âm đầu lưỡi (apical) và âm quặt lưỡi (cacuminal). Trong tiếng Việt, các cấu âm bổ sung có vai trò quan trọng hơn cả là: hiện tượng bật hơi tức là kèm theo một lưu lượng không khí lớn khi chỗ tắc được bật ra (ví dụ: phụ âm th), hiện tượng thanh hầu hóa, tức là bổ sung 1 4 §ång cÊu ©m trong tiÕng ViÖt động tác tắc kèm theo sự nâng lên của thanh hầu; và yết hầu hóa- bổ sung động tác khép của yết hầu.
Hai hiện tượng sau góp phần hiện thực hóa một số phụ âm đầu và thanh điệu tiếng Việt. Các cấu âm bổ sung, cũng như các cấu âm khác, đều có thể được sử dụng để khu biệt các âm tố, hay các hiện tượng âm thanh trong ngôn ngữ. Vì vậy, chúng có giá trị bình đẳng với nhau, xét về mặt âm vị học. Các âm bổ sung này tạo cho các âm tố có những kí hiệu phụ khác nhau trong từng trường hợp cụ thể khi chúng được thể hiện trên mỗi âm tiết) Ví dụ: ngạc hóa, môi hóa, ngắn, dài,.
Âm tố bán âm Những âm tố có đặc tính giống nguyên âm về cách phát âm, cách thể hiện kí hiệu, nhưng thường chỉ đi kèm, bản thân không tạo thành âm tiết được. Nói cách khác, chúng có chức năng khác với chức năng của nguyên âm. Không tạo nên âm sắc chính của âm tiết, không ở đỉnh âm tiết. Phân loại âm tố về mặt âm học Sự phân loại các âm tố về mặt âm học đã được xây dưng trên tài liệu âm phổ.
Các máy phân tích âm phổ cho chúng ta các phổ hình, qua đó các âm tố thể hiện rõ các đặc trưng âm học: cao độ, cường độ, trường độ. Khi phân loại âm tố theo tiêu chí này người ta nhận thấy rằng nhiều khi các nguyên âm hoặc phụ âm phụ thuộc vào các yếu tố khác như: ồn - không ồn, vang - không vang, các yếu tố bổng - trầm.và chúng ta có thể kể ra khá nhiều các chi tiết thuộc về các yếu tố âm học. Bổng trầm: Những âm bổng có tần số lớn, còn những âm trầm có tần số nhỏ. Âm bổng là các nguyên âm hàng trước, phụ âm răng, các phụ âm lưỡi trước (giữa).
Âm trầm là các nguyên âm hàng sau, các phụ âm môi và phụ âm lưỡi sau. Ngắt- không ngắt: Ðó là sự đối lập giữa có và không có sự chuyển tiếp đột ngột, giữa sự có mặt và vắng mặt của âm thanh, các phụ âm xát thường có khởi âm từ từ. Ngược lại, các phụ âm tắc thường có sự ngắt đột ngột sóng âm đi trước bằng một khoảng im lặng hoàn toàn. Các phụ âm tắc (trừ nhóm mũi) là những âm ngắt.
Còn lại là những âm không ngắt.