Phần mở đầu giới thiệu tên đề tài và thống nhất một số thuật ngữ chủ chốt sử dụng một cách nhất quán trong luận án, lí do chọn đề tài, đối tượng nghiên cứu của luận án, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án, phương pháp nghiên cứu của luận án, ngữ liệu minh họa trong luận án, cái mới của luận án, và bố cục của luận án. Tổng quan (Lịch sử vấn đề) &Cơ sở lí thuyết – trình bày cơ sở lí thuyết của luận án, trong đó tổng quan về lịch sử nghiên cứu về Đề ngữ - Thuyết ngữ trong và ngoài nước, quan điểm về Đề ngữ của các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiêu biểu, quan điểm về Đề ngữ của Halliday, và đề xuất cách hiểu của luận án về Đề ngữ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2. Đề ngữ trong câu đơn tiếng Việt có trật tự thông thường (Chủ ngữ đứng trước Vị ngữ) – nghiên cứu cấu tạo và chức năng của Đề ngữ trong câu đơn tiếng Việt, đề xuất và sử dụng một bộ gồm 5 tiêu chí để miêu tả, phân tích và giải thích cấu tạo và chức năng của Đề ngữ.
Trong quá trình miêu tả, phân tích và giải thích, chương 2 thực hiện một số thống kê về tần số xuất hiện của các loại Đề ngữ và nghiên cứu Đề ngữ trong mối liên hệ với cấu trúc Thức thuộc bình diện liên nhân và chỉ ra sự nổi bật của Đề ngữ nhìn từ bình diện kinh nghiệm. Đề ngữ trong câu đơn tiếng Việt có trật tự đảo (Vị ngữ đứng trước Chủ ngữ) và trong một số kiểu câu cụ thể – khảo sát và phân tích cấu tạo và chức năng của Đề ngữ trong câu đơn tiếng Việt có trật tự đảo (Vị ngữ đứng trước Chủ ngữ) và trong một số kiểu câu cụ thể khác của tiếng Việt. Đề ngữ trong một ngôn bản thuyết minh bóng đá trong tiếng Việt – khảo sát và phân tích Đề ngữ trong ngôn bản thuyết minh bóng đá; phân tích các phương thức mà người nói (người tường thuật) sử dụng để phát triển ngôn bản. Phần kết luận tóm lược lại những nội dung đã nghiên cứu, trình bày một số kết quả nghiên cứu về các mặt lí luận và thực tiễn, nêu hạn chế của luận án và gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Dẫn nhập Trong nhiều thập niên qua, Đề ngữ, một trong những phạm trù miêu tả quan trọng nhất trong bất kì ngôn ngữ nào, đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Liên quan đến khái niệm quan trọng này, các nhà nghiên cứu thường đặt ra một loạt những câu hỏi như Đề ngữ là gì? Đề ngữ được nhận diện như thế nào? Đề ngữ có cấu trúc như thế nào? Đề ngữ có chức năng gì? Trong một câu thì Đề ngữ kết thúc ở đâu và Thuyết ngữ bắt đầu từ đâu? Đề ngữ nên được mô hình hoá theo kiểu nào để có thể thể hiện được đúng bản chất và chức năng của khái niệm: theo „phân đoạn tính‟ hay thành tố (như các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha và châu Âu thường thiết lập) hay theo „làn sóng‟ (như các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống thiết lập)? Đề ngữ có phải là một khái niệm phổ niệm cho mọi ngôn ngữ không? Có phải có ngôn ngữ chỉ có cấu trúc Đề ngữ -Thuyết ngữ và, ngược lại, có ngôn ngữ chỉ có cấu trúc Chủ - Vị không? Đề ngữ - Thuyết ngữ và thông tin Cũ - thông tin Mới có là một không? Nếu không phải là một thì chúng có quan hệ với nhau như thế nào?, và v. Những câu hỏi này và có thể một loạt những câu hỏi khác có thể được đặt ra khi nghiên cứu về Đề ngữ.
Khuôn khổ của công trình này không cho phép luận án đề cập đến tất cả những câu hỏi đặt ra ở trên. Trái lại, việc mà luận án dự định làm là tổng quan vắn tắt lịch sử nghiên cứu về Đề ngữ. Mục này được tiếp nối bằng các mục trong đó luận án trình bày các cách hiểu về Đề ngữ của một số nhà nghiên cứu ngữ pháp trên thế giới và ở trong nước. Sau đó, luận án sẽ trình bày mô hình Đề ngữ - Thuyết ngữ trong khung lí thuyết ngữ pháp chức năng do Halliday và các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống phát triển – một mô hình được 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luận án vận dụng, lấy nó làm khung lí thuyết để nghiên cứu về cấu tạo và chức năng của Đề ngữ trong câu đơn tiếng Việt.
Lịch sử nghiên cứu về Đề ngữ Theo Halliday [111], Robins [54], Cao Xuân Hạo [29], Hoàng Văn Vân [89], [91], khái niệm Đề ngữ có nguồn gốc từ hai cách tiếp cận ngôn ngữ khác nhau từ thời cổ Hi Lạp: cách tiếp cận từ bình diện tu từ và cách tiếp cận từ bình diện lôgic. Đại diện tương ứng của hai cách tiếp cận này chính là các nhà quỷ biện (the sophists) và Aristotle. Các nhà quỷ biện quan tâm đến tu từ, đến bản chất của lập luận, và do đó họ quan tâm đến cấu trúc của ngôn bản. Ngày nay, những gì chúng ta biết được về các nhà nghiên cứu ngữ pháp Hi Lạp cổ đại cho thấy rằng họ đã hoàn toàn quen với các phạm trù ngữ pháp sơ đẳng như giống, số và cách trong các ngôn ngữ Ấn-Âu.
Chúng ta không biết họ phân tích câu sâu và chi tiết đến đâu, nhưng theo những cứ liệu còn lại ngày nay thì dường như một trong những thành tựu phân tích ngôn ngữ học có giá trị nhất của họ là một ngôn bản gồm hai phần óυομα (sự vật/danh từ) và pήμα (hành động/động từ). Đây là cách phân tích một đơn vị ngôn bản được xem như là một cái gì đó có thể được tranh cãi, được khẳng định, bị phủ định, bị bác bỏ, hoặc bị ngờ vực. Nó không phải là cách phân tích câu theo cấu trúc lôgic, bởi vì nó không nói bất kì điều gì liên quan đến giá trị chân thực. Vậy ý nghĩa của hai thành phần óυομα và pήμα theo quan điểm của các nhà quỷ biện là gì? Dưới đây là cách mà Platon, một triết gia Hi Lạp cổ đại giới thiệu hai thuật ngữ này trong quan điểm của các nhà quỷ biện thông qua lời nói của một người có tên là Stranger (người lạ) (dẫn theo Halliday [111; 35], Hoàng Văn Vân [88; 1]): “Có hai cách diễn đạt về sự vật tồn tại trong âm thanh … Đó là cách diễn đạt hành động được gọi là pήμα.
Tín hiệu âm thanh chỉ những người thực hiện hành động được gọi là óυομα. Và sau đó, “nếu chúng ta kết hợp pήματα với óυοματα lại với nhau, thì chúng ta không những gọi tên mà 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng ta còn hành động một cái gì đó.” Nét nghĩa này liên quan đến chức năng LIÊN NHÂN của ngôn ngữ mà một trong những khái niệm chủ chốt của nó là Chủ ngữ. Cũng từ những tư liệu của họ và về Aristotle và các nhà quỷ biện, có thể thấy các nhà quỷ biện đã tiến hành hai bước tiếp theo để hình thành nên quan điểm của họ về ngôn ngữ, và cũng từ hai bước này, người ta có thể hiểu được quan niệm của họ về Đề ngữ. Thứ nhất, họ xác định các lớp ngữ pháp dựa vào ý nghĩa phạm trù: động từ diễn đạt hành động, danh từ diễn đạt kẻ gây ra hành động; động từ và danh từ là tên gọi của các lớp từ nhưng chúng lại được định nghĩa thông qua các chức năng của chúng trong sự thể hiện ngôn ngữ của các hành động và sự kiện.
Nét nghĩa này liên quan đến chức năng CHUYỂN TÁC của ngôn ngữ mà một trong những khái niệm chủ chốt của nó là Hành thể (chi tiết, xin xem Halliday [28], [111]; Halliday & Matthiessen [112]; Hoàng Văn Vân [86], [89], [91], [124]). Bước thứ hai, theo quan điểm của các nhà quỷ biện, danh từ đồng thời có chức năng như là “cái mà ngôn bản nói về”, động từ đồng thời là thành phần “nói về ngôn bản đó”; hai thành phần này kết hợp lại với nhau hình thành nên một đơn vị mà họ gọi là “ngôn bản” (λóγοϛ). Theo Hoàng Văn Vân [89], [91], qua quá trình phát triển của lịch sử ngôn ngữ học, người ta không thể truy nguyên được khái niệm Đề ngữ một cách liền mạch. Mãi đến cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, khái niệm Đề ngữ mới xuất hiện trở lại trong ngôn ngữ học chính dòng, và người có công lớn nhất trong việc đem lại vị trí xứng đáng của Đề ngữ trong câu “như là một 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông điệp” (Halliday [111]) chính là nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Tiệp Khắc cũ Vilém Mathesius.
Từ đó đến nay, khái niệm quan trọng này không những được các nhà ngôn ngữ học thuộc trường phái Praha hậu Mathesius như Daneš [96], [97]; Vachek [123]; Firbas [101] phát triển mà nó còn được cả các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, kể cả ở Việt Nam nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận khác nhau như Dik [98]; Halliday [28], [107], [110], [111], Halliday & Matthiessen [112]; Fries [100]; Chafe [94]; Cao Xuân Hạo [29]; UBKHXH [75]; Lý Toàn Thắng [62], [63]; Trần Ngọc Thêm [64], [65]; Diệp Quang Ban [9]; Hoàng Văn Vân [89], [90]; Dyvik [99]; Thompson [122]; Đào Thanh Lan [39]; Nguyễn Hồng Cổn [13], [14], v. Tuy nhiên, Đề ngữ là gì và Đề ngữ được thể hiện như thế nào trong các ngôn ngữ trên thế giới, và thậm chí trong cùng một ngôn ngữ dường như vẫn là những câu hỏi cần phải nghiên cứu tiếp để làm rõ hơn. Đây là trọng tâm của những phần tổng quan dưới đây của luận án. Các cách hiểu về Đề ngữ - Thuyết ngữ 1.
Đề ngữ - Thuyết ngữ hiểu theo nghĩa phân đoa ̣n thực tại câu Như trên đã đề cập ở trên, người khởi đầu và đặt nền móng cho việc nghiên cứu “phối cảnh câu chức năng” (functional sentence perspective) liên quan trực tiếp đến kết cấu và ý nghĩa của hai thành phần của câu như là một thông điệp là nhà ngôn ngữ học chức năng nổi tiếng Vilem Mathesius và các học giả khác thuộc nhóm ngôn ngữ học Praha, mà những nghiên cứu của họ thường được gặp dưới cái tên lí thuyết phân đoạn thực tại (actual division) của câu. Thay vì nhằm vào câu, Mathesius nhằm vào thực tại, giải quyết những mối quan hệ về cú pháp nhưng nằm trong thực tại (Lý Toàn Thắng [62], Hoàng Văn Vân [89], [90], [91]).