Tổng quan nghiên cứu

Thành ngữ tiếng Việt là khối di sản ngôn ngữ cố định mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc, đóng vai trò then chốt trong việc kiến tạo biểu cảm và phản ánh hiện thực đời sống. Trong văn học Việt Nam sau năm 1986, quá trình đổi mới tư duy nghệ thuật đã thúc đẩy các tác giả khai thác vốn thành ngữ dân gian vào tiểu thuyết đương đại như một phương tiện thi pháp đắc lực. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề tiếp biến và vận dụng thành ngữ của hai cây bút tiểu thuyết xuất sắc là Ma Văn Kháng và Nguyễn Bắc Sơn. Mục tiêu cụ thể của luận văn là thống kê, phân loại và luận giải đặc điểm cấu tạo cú pháp, ngữ nghĩa cùng giá trị nghệ thuật của hệ thống thành ngữ trong hai tác phẩm tiêu biểu.

Phạm vi khảo sát được giới hạn tại hai tiểu thuyết phát hành gồm tác phẩm Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2016 và tiểu thuyết Gã tép riu trọn bộ 2 tập của Nguyễn Bắc Sơn do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2017. Luận văn tiến hành khảo sát vét cạn toàn bộ văn bản và thu thập được 287 đơn vị thành ngữ cùng các biến thể sinh động. Về mặt ý nghĩa khoa học, nghiên cứu cung cấp 1 bộ ngữ liệu thực chứng chuẩn xác cho chuyên ngành ngôn ngữ học, đồng thời hỗ trợ tăng cường độ nhận diện thi pháp tác giả với độ tin cậy học thuật cao. Kết quả khảo sát giúp làm sáng tỏ năng lực sáng tạo ngôn từ của hai tác giả, mở ra hướng ứng dụng hiệu quả trong việc tiếp nhận và giảng dạy ngôn ngữ văn học giai đoạn hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng ngữ dụng học và cấu trúc từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt được xây dựng bởi các học giả uy tín đầu ngành như Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp và Cù Đình Tú. Nghiên cứu xác lập 5 khái niệm bản lề bao gồm đơn vị định danh cố định, tính hoàn chỉnh về cấu trúc hình thái, tính biểu trưng ngữ nghĩa, tính biểu thái cảm xúc và tính dân tộc gắn liền với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng người Việt. Về mặt phân loại, luận văn tiếp thu mô hình lưỡng phân dựa trên phương thức tạo nghĩa gồm thành ngữ ẩn dụ và thành ngữ so sánh, kết hợp tiêu chí nguồn gốc phân chia thành hai nhóm là thành ngữ thuần Việt và thành ngữ Hán - Việt.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ ranh giới chức năng giữa thành ngữ và tục ngữ: thành ngữ giữ chức năng định danh gọi tên sự vật, hiện tượng hoặc tính chất, trong khi tục ngữ thực hiện chức năng thông báo trọn vẹn một phán đoán. Đối với tính biểu trưng, luận văn áp dụng quan điểm của giáo sư Đỗ Hữu Châu về việc lấy vật thực và việc thực để khái quát hóa thành những thuộc tính phổ quát trong xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ 2 cuốn tiểu thuyết với quy mô văn bản dài hàng trăm trang. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ nhằm khảo sát toàn diện 287 ngữ liệu thành ngữ xuất hiện trong tác phẩm mà không bỏ sót bất kỳ biến thể lâm thời nào. Cỡ mẫu 287 đơn vị này đảm bảo tính đại diện và phản ánh chính xác thói quen sử dụng ngôn ngữ của hai tác giả.

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ 3 phương pháp chính: phương pháp thống kê - phân loại để lượng hóa tần suất xuất hiện và phân định các mô hình cấu trúc; phương pháp phân tích ngôn ngữ học để mổ xẻ đặc điểm cú pháp cùng các trường ngữ nghĩa; phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm đối chiếu thành ngữ trong tác phẩm với dạng thức gốc trong từ điển tiếng Việt. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, chuyển hóa các nhận định định tính thành những con số định lượng cụ thể, từ đó chứng minh dấu ấn phong cách cá nhân của nhà văn một cách thuyết phục. Toàn bộ quy trình nghiên cứu được triển khai chặt chẽ và hoàn thành bảo vệ thành công tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng trên tổng số 287 thành ngữ đã làm sáng tỏ cấu trúc hình thái và sự phân bố thể loại thành ngữ trong hai tiểu thuyết với 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nhóm thành ngữ ẩn dụ chiếm ưu thế tuyệt đối với 280 trên 287 đơn vị, đạt tỷ lệ 97,56%, trong khi thành ngữ so sánh chỉ xuất hiện 7 lần, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 2,44%.

Thứ hai, trong hệ thống thành ngữ ẩn dụ, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng chiếm số lượng lớn nhất với 152 đơn vị, tương ứng 52,96% tổng số ngữ liệu. Đặc biệt, cấu trúc 4 yếu tố áp đảo với 142 trên 152 thành ngữ đối xứng, chiếm tỷ lệ 93,42%, còn dạng 6 yếu tố chỉ ghi nhận 10 đơn vị, chiếm 6,58%.

Thứ ba, thành ngữ ẩn dụ hóa đối xứng 4 yếu tố được kiến tạo qua 6 mô hình cú pháp phong phú. Trong đó, mô hình Động từ - Danh từ kết hợp Động từ - Danh từ chiếm vị trí cao nhất với 67 thành ngữ (44,07%), tiêu biểu như các tổ hợp lên thác xuống ghềnh, tháo cũi sổ lồng. Mô hình Danh từ - Tính từ kết hợp Danh từ - Tính từ chiếm vị trí thứ hai với 60 thành ngữ (39,47%), điển hình là cơm đen vận túng, của chìm của nổi. Các mô hình còn lại gồm Danh từ - Động từ (7 đơn vị, chiếm 4,6%), Tính từ - Danh từ (7 đơn vị, chiếm 4,6%), Danh từ - Danh từ (6 đơn vị, chiếm 4,0%) và Động từ - Tính từ (5 đơn vị, chiếm 3,3%).

Thứ tư, nhóm thành ngữ ẩn dụ hóa phi đối xứng ghi nhận 128 trường hợp, chiếm tỷ lệ 44,59%, được tổ chức chủ yếu dưới dạng ngữ vị từ như suy bụng ta ra bụng người, ngữ danh từ như tay dài miệng chậm và kết cấu chủ vị bổ ngữ như chó đen giữ mực.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thống kê về cấu tạo thành ngữ phản ánh rõ nét quy luật tư duy và mỹ cảm của người Việt ưa chuộng tính cân xứng nhịp nhàng trong lời nói. Kết quả phân bố này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng 3 nhóm thành ngữ lớn: Ẩn dụ đối xứng (52,96%), Ẩn dụ phi đối xứng (44,59%) và So sánh (2,44%). Sự áp đảo của cấu trúc 4 âm tiết đối xứng (93,42%) tạo nên nhạc tính dồn dập, giúp câu văn giàu hình ảnh và dễ đi vào tâm trí người đọc.

Về phương diện phản ánh ngữ nghĩa, 287 thành ngữ tập trung chuyển tải 3 chiều kích hiện thực sâu sắc:

Cuộc sống gian nan cơ cực của người lao động được khắc họa sinh động qua những cảnh đời lên voi xuống chó, chịu cảnh đói đầu gối phải bò hay tình cảnh thắt lưng buộc bụng trong giai đoạn khủng hoảng. Cả hai tác giả đã tái hiện chân thực bức tranh mưu sinh chật vật của tầng lớp trí thức và thị dân sau thời kỳ bao cấp.

Vẻ đẹp nhân cách và đạo lý ứng xử truyền thống của dân tộc được ngợi ca qua các chuẩn mực có người có ta, có đi có lại, nhắc nhở tinh thần sống biết điều, gắn kết cộng đồng và giữ vững niềm tin tâm linh qua quan niệm có thờ có thiêng có kiêng có lành.

Hiện thực tiêu cực và thói tha hóa quyền lực trong xã hội đương thời bị phơi bày trực diện thông qua các hành vi đè đầu cưỡi cổ, ăn trên ngồi trốc, thủ đoạn ngậm máu phun người hay dùng quyền thế lấy thịt đè người. Sự kết hợp nhuần nhuyễn vốn từ dân gian giúp tác phẩm đạt hiệu quả biểu đạt gai góc, đậm đặc hơi thở thời sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu ngôn ngữ học thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao:

Tích hợp phương pháp tiếp cận thành ngữ học vào chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông hiện hành, hướng đến mục tiêu nâng cao 30% hiệu quả cảm thụ văn bản nghệ thuật cho học sinh trong giai đoạn 2026-2028, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường Đại học Sư phạm thực hiện.

Chuẩn hóa và số hóa cơ sở dữ liệu gồm 287 ngữ liệu thành ngữ cùng hệ thống phân loại 6 mô hình cú pháp phục vụ công tác biên soạn từ điển tác giả trước quý 4 năm 2027, do Viện Ngôn ngữ học và các viện nghiên cứu chuyên ngành chủ trì.

Tổ chức các hội thảo chuyên đề về kỹ năng tiếp biến và làm mới thành ngữ dân gian trong sáng tác văn xuôi đương đại, nhằm thúc đẩy tỷ lệ biểu đạt sáng tạo ngôn từ của các tác giả trẻ đạt mức tăng trưởng 20% mỗi năm, dưới sự điều phối của Hội Nhà văn Việt Nam.

Phát triển các mô hình xử lý ngôn ngữ tự nhiên tiếng Việt có khả năng nhận diện chính xác 100% các cấu trúc thành ngữ cố định và biến thể ngữ pháp trong văn bản văn học trước năm 2030, do các đơn vị nghiên cứu trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ học tính toán đảm trách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Văn học tại các trường đại học: Tiếp cận khung phân tích cú pháp chuẩn mực với 287 ngữ liệu thực chứng, hỗ trợ trực tiếp cho các đề tài nghiên cứu về từ vựng học và phong cách học tác giả.

Giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông: Khai thác kho ví dụ phong phú từ tác phẩm Người thợ mộc và tấm ván thiên cùng Gã tép riu để làm phong phú bài giảng phân hóa về thành ngữ tiếng Việt trong chương trình giáo dục mới.

Nhà văn, nhà biên kịch và đội ngũ sáng tạo nội dung văn hóa: Vận dụng các mô hình cải biến cấu trúc 4 yếu tố và kỹ thuật lồng ghép khẩu ngữ nhằm nâng cao chiều sâu tính cách nhân vật trong các tác phẩm nghệ thuật.

Học giả nghiên cứu văn hóa dân gian và Việt Nam học: Sử dụng số liệu thống kê như nguồn tư liệu đáng tin cậy để khảo sát sự biến đổi tâm thức xã hội Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế từ năm 1986 đến nay.

Câu hỏi thường gặp

Thành ngữ ẩn dụ chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong hai tác phẩm khảo sát? Nhóm thành ngữ ẩn dụ chiếm tỷ lệ áp đảo với 97,56%, tương ứng 280 trên tổng số 287 đơn vị thành ngữ được tìm thấy. Tỷ lệ vượt trội này chứng minh xu hướng ưa chuộng cách diễn đạt hàm súc, giàu biểu tượng và nhiều tầng nghĩa của hai nhà văn Ma Văn Kháng và Nguyễn Bắc Sơn khi phản ánh những xung đột xã hội phức tạp.

Vì sao dạng thành ngữ 4 yếu tố lại chiếm tới 93,42% trong nhóm ẩn dụ đối xứng? Cấu trúc 4 yếu tố đạt 142 trên 152 đơn vị nhờ sự cân đối hoàn hảo về nhịp điệu 2/2 trong ngữ âm tiếng Việt. Cấu trúc này tạo thế đối xứng nhịp nhàng giữa hai vế chính phụ hoặc chủ vị, giúp người viết dễ dàng khắc họa các cặp trạng thái đối lập như lên voi xuống chó hoặc cơm đen vận túng một cách cô đọng.

Thành ngữ trong tiểu thuyết Gã tép riu phản ánh hiện thực gì? Thành ngữ trong Gã tép riu tập trung lột tả tình cảnh ngột ngạt của người trí thức công chức và sự tha hóa quyền lực qua các cụm từ như thân cô thế cô, thân tàn ma dại hay lấy thịt đè người. Ngôn ngữ thành ngữ góp phần gia tăng tính chất tự truyện và giá trị phản biện xã hội sắc sảo của tác phẩm.

Nhà văn Ma Văn Kháng sử dụng thành ngữ nhằm mục đích gì ở nhân vật người trí thức? Tác giả vận dụng các thành ngữ như khổ tận cam lai, đói đầu gối phải bò hay lên thác xuống ghềnh để nhấn mạnh bi kịch mưu sinh nhọc nhằn nhưng kiên định của nhân vật thầy giáo Quang Tình. Qua đó, nhà văn khẳng định niềm tin vào sự đổi thay tươi sáng và phẩm giá trong sạch của người trí thức vùng cao.

Thành ngữ so sánh xuất hiện với tần suất như thế nào trong hai cuốn tiểu thuyết? Thành ngữ so sánh xuất hiện rất hạn chế với 7 trường hợp, chỉ chiếm 2,44% tổng số thành ngữ thu thập. Nguyên nhân do tính chất tự sự thế sự và đối thoại đời thường trong tác phẩm đòi hỏi ngôn từ cô đọng, sắc bén mang tính ẩn dụ cao hơn là các so sánh ví von bề mặt thông thường.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành trọn vẹn việc khảo sát, phân loại và phân tích hệ thống 287 thành ngữ trong hai tiểu thuyết Người thợ mộc và tấm ván thiên và Gã tép riu.

Nghiên cứu xác lập rõ nét 6 mô hình cấu trúc cú pháp của nhóm thành ngữ đối xứng 4 yếu tố, làm nổi bật tỷ lệ áp đảo 93,42% của dạng thức này trong văn bản văn học.

Hệ thống ngữ liệu chứng minh năng lực phản ánh hiện thực toàn diện của thành ngữ, từ việc khắc họa nỗi vất vả mưu sinh đến việc phê phán trực diện thói hư tật xấu trong xã hội.

Kết quả nghiên cứu khẳng định bản lĩnh nghệ thuật và tài năng bậc thầy của Ma Văn Kháng và Nguyễn Bắc Sơn trong việc hiện đại hóa chất liệu ngôn ngữ dân gian.

Đề tài cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho công tác nghiên cứu ngữ dụng học, thi pháp học và giảng dạy ngôn ngữ văn học trong giai đoạn 2026-2030.

Học giả và độc giả quan tâm có thể tiếp tục mở rộng khai thác thi pháp thành ngữ trên các thể loại văn xuôi đương đại khác để tôn vinh và phát huy vẻ đẹp tiếng Việt.