ĐẶT VẤN ĐỀ. Đại cương vitamin D. Vitamin D và kháng insulin. Vitamin D và hội chứng chuyển hóa.
Các nghiên cứu liên quan. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Đạo đức trong y học. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Đặc điểm chung ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương, kháng insulin và hội chứng chuyển hóa.
Mối liên quan giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương với kháng insulin và hội chứng chuyển hóa. Đặc điểm chung ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương, kháng insulin và hội chứng chuyển hóa. Mối liên quan giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương với kháng insulin và hội chứng chuyển hóa.
124 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI. 127 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN LUẬN ÁN PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1. Tình trạng vitamin D theo nồng độ 25(OH)D huyết tương. Phân loại tình trạng vitamin D theo Hội Nội tiết Mỹ (2011).
Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2000 dành cho người trưởng thành châu Á. Đặc điểm tuổi ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm thể trọng theo giới ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương ở đối tượng nghiên cứu.
Nồng độ 25(OH)D huyết tương theo giới ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương theo nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương theo thể trọng ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ insulin, chỉ số HOMA1-%B và HOMA-IR ở đối tượng nghiên cứu.
Tỷ lệ tăng nồng độ insulin, giảm chức năng tế bào β và kháng insulin ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ insulin, chỉ số HOMA1-%B và HOMA-IR theo giới ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ insulin, chỉ số HOMA1-%B và HOMA-IR theo nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu.
Trị trung bình các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu 66 Bảng 3. Tỷ lệ các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương trên đối tượng kháng insulin. Liên quan giữa thiếu vitamin D với nồng độ insulin, chỉ số HOMA1-%B và HOMA-IR ở đối tượng nghiên cứu.
Liên quan giữa tỷ lệ thiếu vitamin D với nồng độ insulin, chỉ số HOMA1-%B và HOMA-IR ở đối tượng nghiên cứu. Liên quan giữa nồng độ 25(OH)D huyết tương theo kháng insulin và G0 ≥ 7 mmol/L ở đối tượng nghiên cứu. Liên quan giữa tỷ lệ thiếu vitamin D theo kháng insulin và G0 ≥ 7 mmol/L ở đối tượng nghiên cứu. Điểm cắt các yếu tố nguy cơ trong dự báo kháng insulin ở đối tượng nghiên cứu.
Hồi quy logistic nhị phân đơn biến giữa các yếu tố nguy cơ với kháng insulin ở đối tượng nghiên cứu. Hồi quy logistic nhị phân đa biến giữa các yếu tố nguy cơ với kháng insulin ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương trên đối tượng HCCH. Liên quan giữa thiếu vitamin D với các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu.
Liên quan giữa tỷ lệ thiếu vitamin D với các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Điểm cắt nồng độ 25(OH)D huyết tương trong dự báo các thành tố của HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Điểm cắt các yếu tố nguy cơ trong dự báo HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Hồi quy logistic nhị phân đơn biến giữa các yếu tố nguy cơ với HCCH ở đối tượng nghiên cứu.
Hồi quy logistic nhị phân đa biến giữa các yếu tố nguy cơ với HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D huyết tương theo kháng insulin và HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Liên quan giữa tỷ lệ thiếu vitamin D theo kháng insulin và HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Điểm cắt các yếu tố nguy cơ trong dự báo thiếu vitamin D ở đối tượng nghiên cứu.
Hồi quy logistic nhị phân đơn biến giữa các yếu tố nguy cơ với thiếu vitamin D ở đối tượng nghiên cứu. Hồi quy logistic nhị phân đa biến giữa các yếu tố nguy cơ với thiếu vitamin D ở đối tượng nghiên cứu. Nồng độ 25(OH)D (nmol/mL) trên thế giới theo tuổi và khu vực. 94 DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ Trang Hình 1.
Sự điều hòa tổng hợp và chuyển hóa vitamin D. Con đường tín hiệu insulin trong điều kiện sinh lý. Sự suy giảm con đường tín hiệu insulin trong kháng insulin. Vitamin D có tác dụng duy trì nồng độ thấp của Ca2+ và ROS.
Vitamin D gây cảm ứng quá trình chết tế bào mỡ theo chương trình. Ảnh hưởng của thiếu vitamin D lên chuyển hóa. Mối liên quan giữa vitamin D với kháng insulin, béo phì, đái tháo đường típ 2 và hội chứng chuyển hóa. Máy AU680-Beckman Coulter.
Thiết kế nghiên cứu. 53 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 3. Đặc điểm giới ở đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ thiếu vitamin D ở đối tượng nghiên cứu.
Tỷ lệ thiếu vitamin D theo giới ở đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ thiếu vitamin D theo nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ thiếu vitamin D theo thể trọng ở đối tượng nghiên cứu 60 Biểu đồ 3. Tỷ lệ tăng nồng độ insulin, giảm chức năng tế bào β và kháng insulin theo giới ở đối tượng nghiên cứu.
Tỷ lệ tăng nồng độ insulin, giảm chức năng tế bào β và kháng insulin theo nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ HCCH ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm HCCH theo giới ở đối tượng nghiên cứu. Đặc điểm HCCH theo nhóm tuổi ở đối tượng nghiên cứu.
Tỷ lệ thiếu vitamin D trên đối tượng kháng insulin. Đường cong ROC của nồng độ 25(OH)D huyết tương trong dự báo kháng insulin ở đối tượng nghiên cứu. Tỷ lệ thiếu vitamin D trên đối tượng HCCH. Đường cong ROC của nồng độ 25(OH)D huyết tương trong dự báo HCCH ở đối tượng nghiên cứu.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Vitamin D là một trong các dưỡng chất thiết yếu để duy trì sức khỏe con người, là thành viên của gia đình hormon, có vai trò kinh điển trong điều hòa chuyển hóa calci và thêm vai trò mới trong ảnh hưởng đến tăng sinh và biệt hóa tế bào [139]. Gần đây, sự phát hiện hàng nghìn thụ thể vitamin D liên kết các vị trí thông qua bộ gen kiểm soát hoạt động của hàng trăm gen và việc tìm thấy các thụ thể vitamin D trong hầu hết tất cả các mô, từ đó, cơ chế tác động đối với nhiều quá trình sinh học của vitamin D đã được chứng minh bởi các nghiên cứu [47]. Tác dụng của vitamin D bao gồm giải độc hóa chất, giảm stress oxy hóa, chức năng bảo vệ thần kinh, tính kháng khuẩn, điều hòa miễn dịch, tác dụng chống viêm, chống ung thư và lợi ích tim mạch [65]. Hội chứng chuyển hóa (HCCH) làm tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện ĐTĐ típ 2 và bệnh tim mạch, từ đó liên quan chặt chẽ đến quá trình lão hóa và một loạt các kết cục xấu.
Ước tính hiện tại có khoảng 20 – 25% dân số thế giới bị ảnh hưởng bởi HCCH, tỷ lệ mắc HCCH tăng theo độ tuổi và có hơn 45% số người trên 60 tuổi có HCCH. Béo phì, đặc biệt là béo bụng hay béo phì trung tâm với sự lắng đọng lipid trong gan là một đặc điểm cốt lõi của HCCH [88]. Năng lượng được dự trữ quá mức trong mô mỡ và các cơ quan khác dưới dạng lipid, dễ gây ngộ độc lipid và tình trạng viêm chuyển hóa, từ đó hoạt hóa các protein kinase trong tế bào và gây tổn thương các thành phần tín hiệu của insulin, và hậu quả là gây kháng insulin. Kháng insulin là nguyên nhân chủ yếu gây HCCH, một nhóm các rối loạn có mối tương quan với nhau, bao gồm béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp và tăng glucose máu [116].
2 Hoạt động phân tử của vitamin D có liên quan đến duy trì nồng độ khi nghỉ bình thường của các dạng oxy hoạt động và Ca2+, không chỉ trong các tế bào, mà còn trong các mô đáp ứng với insulin. Cả hai hoạt động qua gen và không qua gen của vitamin D đều hướng đến tín hiệu insulin. Qua đó, vitamin D làm giảm mức độ bệnh lý liên quan đến kháng insulin như stress oxy hóa và viêm. Gần đây, một số nghiên cứu đã chứng minh vitamin D ngăn ngừa sự biến đổi di truyền ngoài gen liên quan đến kháng insulin và đái tháo đường (ĐTĐ) [130].
Các khuyến cáo hiện tại hướng dẫn chúng ta sử dụng nồng độ 25-hydroxyvitamin D [25(OH)D] lưu hành trong máu để đánh giá tình trạng vitamin D [78]. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã xác định mối liên quan giữa giảm nồng độ 25(OH)D với kháng insulin và HCCH. Nghiên cứu của Tepper và cộng sự (2014) ghi nhận mối tương quan nghịch giữa nồng độ 25(OH)D trong máu với insulin và HOMA-IR [132]. Một nghiên cứu trên người cao tuổi sống ở miền Bắc Phần Lan (2019) ghi nhận các đối tượng HCCH có nồng độ 25(OH)D thấp hơn các đối tượng không có HCCH, nồng độ 25(OH)D trong máu có mối tương quan nghịch với vòng bụng, glucose, insulin và HOMA-IR [104].
Gần đây, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng của Bhatt SP và cộng sự (2020) ghi nhận giảm nồng độ glucose máu đói, glucose máu 2 giờ sau ăn, HbA1c và mỡ dưới da sau khi bổ sung vitamin D [45]. Tuy nhiên, kết quả của một số nghiên cứu khác còn mâu thuẫn và tranh luận [37], [84], [140]. Ở Việt Nam, đã có các công trình nghiên cứu nồng độ 25(OH)D trong máu ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp, ở người ĐTĐ típ 2 và với kháng insulin ở phụ nữ mắc ĐTĐ thai kỳ [7], [15], [18]. Việc xác định mối liên quan giữa nồng độ 25(OH)D trong máu với kháng insulin, hội chứng chuyển hóa…giúp cung cấp thêm thông tin về vai trò của vitamin D trong một số khía cạnh bệnh lý còn mới mẻ này, qua đó có thể góp phần vào việc theo dõi và điều trị bệnh.
Xuất phát từ bối cảnh thực tế trên, chúng tôi tiến 3 hành đề tài "Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương với tình trạng kháng insulin và hội chứng chuyển hóa". MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định tỷ lệ thiếu vitamin D, kháng insulin và hội chứng chuyển hóa ở đối tượng đến khám sức khỏe tổng quát tại Trung tâm điều trị theo Yêu cầu và Quốc tế – Bệnh viện Trung ương Huế.